Hôm nay, ngày 25 tháng 6 năm 2017 Trang chủ  Báo điện tử ĐCSVN  Giới thiệu  Sitemap  Liên hệ  English  Français   
 
Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
14:51 | 18/11/2015

 QUY CHẾ LÀM VIỆC
CỦA BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG

Số 15-QĐ/TW, ngày 28 tháng 8 năm 1987




Căn cứ vào Điều lệ Đảng và rút kinh nghiệm việc thực hiện Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương (khóa V).

Nhằm xây dựng trong toàn Đảng, trước hết từ Ban Chấp hành Trung ương, nền nếp lãnh đạo và sinh hoạt theo các nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, phân công cá nhân phụ trách; thực hiện đúng cơ chế "Đảng lãnh đạo, nhân dân lao động làm chủ, Nhà nước quản lý"; bảo đảm tính cách mạng và tính khoa học trong công tác lãnh đạo; thực hiện tốt phương thức xây dựng và sử dụng tổ chức theo chức năng.

Hội nghị toàn thể lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương (khoá VI) quyết định quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương như sau:

I
TRÁCH NHIỆM, QUYỀN HẠN CỦA TẬP THỂ
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG

1. Ban Chấp hành Trung ương thông qua các kỳ hội nghị toàn thể, sinh hoạt và hoạt động của Bộ Chính trị, Ban Bí thư để thực hiện chức năng lãnh đạo của mình, làm tròn nhiệm vụ đã được quy định ở Điều 22 của Điều lệ Đảng.

Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương quyết định những vấn đề quan trọng nhất về cụ thể hoá đường lối và tổ chức thực hiện các Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng về mọi mặt: chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, công tác tư tưởng và tổ chức, công tác quần chúng, công tác đảng, v.v.. Cụ thể là:

Quyết định nhiệm vụ, phương hướng, chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại; cụ thể hoá các mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch trung hạn, dài hạn do Đại hội thông qua; những vấn đề có tính quyết định đến sự phát triển trước mắt và lâu dài của đất nước, các chủ trương, biện pháp trọng yếu về mọi mặt theo chương trình do Ban Chấp hành Trung ương quy định.

- Quyết định những vấn đề về cán bộ và những vấn đề khác mà Điều lệ Đảng ghi rõ phải do Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương quyết định (như cử các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, thi hành kỷ luật Uỷ viên Trung ương...).

- Chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc và Hội nghị đại biểu toàn quốc.

Giữa nhiệm kỳ, Hội nghị Trung ương nghe báo cáo của Bộ Chính trị về kết quả việc thi hành Nghị quyết của Đại hội để kiểm tra và thúc đẩy việc thực hiện. Trong các hội nghị thường lệ, Ban Chấp hành Trung ương nghe Bộ Chính trị báo cáo về công việc của Bộ Chính trị giữa hai kỳ hội nghị Ban Chấp hành Trung ương. Trong báo cáo có lưu ý đến tình hình lãnh đạo thực hiện Nghị quyết kỳ họp trước của Ban Chấp hành Trung ương.

2. Bộ Chính trị là cơ quan lãnh đạo tập thể cao nhất giữa hai kỳ Hội nghị Trung ương, có trách nhiệm và quyền hạn:

- Căn cứ vào Nghị quyết của Đại hội và Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương quyết định các chủ trương, chính sách và biện pháp quan trọng về mọi mặt.

- Quyết định các thay đổi lớn về tổ chức (như chia tách, sáp nhập, thành lập các tỉnh, các bộ, tổng cục, các ban của Trung ương) và bố trí, đề bạt, thi hành kỷ luật đối với cán bộ thuộc danh mục do Bộ Chính trị quản lý.

- Chuẩn bị các kỳ hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương, nghe báo cáo của Ban Bí thư, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, Hội đồng Nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng, của thành uỷ, tỉnh uỷ và các cơ quan xét cần về việc thực hiện các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương.

3. Ban Bí thư là cơ quan lãnh đạo tập thể và là cơ quan thường trực của Ban Chấp hành Trung ương, có trách nhiệm lãnh đạo công việc hằng ngày của Đảng, nhất là công tác cán bộ, công tác đảng viên và kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của Đảng theo Điều 23 của Điều lệ Đảng.

Những công việc chính của Ban Bí thư là:

- Xây dựng và điều hành bộ máy của Ban Chấp hành Trung ương để bảo đảm hoạt động của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

- Ra các quyết định, chỉ thị, thông tri để cụ thể hoá các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương và của Bộ Chính trị.

- Quyết định việc bố trí, đề bạt, thi hành kỷ luật đối với cán bộ chủ chốt theo danh mục do Bộ Chính trị quy định.

- Kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng ở các cấp, các ngành, các đoàn thể, kể cả ở các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Nhà nước. Qua kiểm tra, tuỳ theo tính chất hoặc tầm quan trọng của từng vấn đề mà Ban Bí thư có chủ trương, biện pháp phát huy các ưu điểm, khắc phục các khuyết điểm.

Phần lớn các quyết định, chỉ thị của Ban Bí thư, nhất là về kinh tế, văn hoá, quốc phòng, an ninh là dựa trên cơ sở kiểm tra, sơ kết việc thi hành các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương và của Bộ Chính trị.

- Theo chế độ, báo cáo với Bộ Chính trị, với cấp dưới (theo Điều 23 của Điều lệ) và thông báo đến các Uỷ viên Trung ương về tình hình chung và hoạt động của các cấp, các ngành để thi hành Nghị quyết của Đảng.

4. Ban Chấp hành Trung ương mà thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo Quốc hội, Hội đồng Nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, các đoàn thể, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện đường lối, chính sách của Đảng theo chức trách và thẩm quyền đã quy định ở Điều 1, 2, 3. Phạm vi trách nhiệm cụ thể về một số mặt công tác được xác định như sau:

- Các chính sách lớn về kinh tế - xã hội do hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương hoặc Bộ Chính trị quyết định. Các chính sách cụ thể thì tuỳ theo tính chất, tầm quan trọng của từng vấn đề mà do Ban Bí thư hoặc Hội đồng Bộ trưởng, hoặc do Ban Bí thư cùng Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng bàn bạc quyết định theo chương trình làm việc trong từng thời gian của Bộ Chính trị và Ban Bí thư.

Các chủ trương, chính sách về kinh tế - xã hội do Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng và cơ quan nhà nước chuẩn bị; các ban của Trung ương có trách nhiệm giúp Bộ Chính trị, Ban Bí thư định hướng nghiên cứu và thẩm tra lại đề án trước khi Bộ Chính trị, Ban Bí thư thảo luận.

Đối với các chủ trương, chính sách do Hội đồng Bộ trưởng quyết định, các ban có liên quan giúp Ban Bí thư thực hiện chức năng kiểm tra; đồng chí Bí thư phụ trách ban và ban góp ý kiến với cơ quan nghiên cứu và với Hội đồng Bộ trưởng, nếu có vấn đề xét cần thì đề nghị Ban Bí thư phát biểu ý kiến với Hội đồng Bộ trưởng trước khi chính sách được ban hành.

- Kế hoạch nhà nước do Hội đồng Bộ trưởng trình Bộ Chính trị. Ban Kinh tế phối hợp với các ban có liên quan giúp Ban Bí thư thẩm tra lại và đề xuất ý kiến với Ban Bí thư, Bộ Chính trị về dự thảo kế hoạch đó.

5. Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo trực tiếp công tác quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Bộ Chính trị quyết định các vấn đề về chính sách, chủ trương, các vấn đề cụ thể nhưng có ý nghĩa quan trọng về đối nội, đối ngoại. Ban Bí thư quyết định các vấn đề theo quy định của Bộ Chính trị và kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết của Đảng về quân sự, an ninh, đối ngoại (thuộc thẩm quyền Ban Bí thư) ở các cấp, các ngành và các cơ quan có trách nhiệm về các mặt công tác đó.

II
TRÁCH NHIỆM, QUYỀN HẠN CÁ NHÂN
CÁC UỶ VIÊN TRUNG ƯƠNG

6. Các Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương (kể cả các Uỷ viên Bộ Chính trị, các đồng chí Bí thư) ngoài trách nhiệm tham gia lãnh đạo tập thể ở các Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương (và của Bộ Chính trị nếu là Uỷ viên Bộ Chính trị, của Ban Bí thư nếu là đồng chí Bí thư), có trách nhiệm nắm vững và thực hiện tốt Điều lệ Đảng, các Nghị quyết của Đại hội toàn quốc, của Ban Chấp hành Trung ương; quán triệt trong cán bộ, đảng viên và tổ chức thực hiện tốt phần Nghị quyết, chỉ thị của Trung ương thuộc ngành, địa phương, đơn vị mình phụ trách. Mỗi đồng chí Uỷ viên Trung ương đều phải nêu cao trách nhiệm nói và làm theo Nghị quyết, giữ kỷ luật phát ngôn, bảo đảm bí mật của Đảng, giữ gìn sự thống nhất ý chí và hành động của Đảng.

- ít nhất ba tháng một lần và khi thấy cần thiết, nhất là sau các đợt công tác ở cơ sở, các đồng chí Uỷ viên Trung ương gửi báo cáo về Bộ Chính trị, Ban Bí thư những vấn đề mình thấy cần quan tâm hoặc những kinh nghiệm tốt trong việc chấp hành Nghị quyết của Đảng, nêu các vấn đề lưu ý Bộ Chính trị, Ban Bí thư xem xét và tăng cường chỉ đạo, nhất là về lĩnh vực hoặc cấp mà mình phụ trách.

- Mỗi đồng chí Uỷ viên Trung ương có chương trình học tập theo yêu cầu công tác của mình, gương mẫu trong lối sống, xây dựng đoàn kết nội bộ, thực hiện tự phê bình và phê bình trong chi bộ (với tư cách là đảng viên); hằng năm tự phê bình trong cấp uỷ hoặc trong cơ quan nơi mình làm việc, lấy ý kiến phê bình và báo cáo về Ban Bí thư.

- Mỗi quý dành khoảng 15 ngày để xuống cơ sở, gặp cán bộ, đảng viên, tiếp xúc với quần chúng lao động. Khi xuống cơ sở phải có những kỳ sinh hoạt với chi bộ, đảng uỷ; các đồng chí lãnh đạo ở cấp trung ương trong việc thực hiện chế độ đi cơ sở, cần có kế hoạch đến các vùng dân tộc, biên giới, nơi có nhiều khó khăn phức tạp. Các đồng chí Uỷ viên Trung ương hoạt động ở huyện, quận, cơ sở cần nắm sát tình hình cơ sở, sâu sát quần chúng, phản ánh kịp thời ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của quần chúng với Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Từng thời gian, Ban Bí thư có yêu cầu cụ thể và có định hướng cho các Uỷ viên Trung ương về nội dung báo cáo, phản ánh tình hình với Bộ Chính trị, Ban Bí thư, nhằm đóng góp vào việc thực hiện chương trình làm việc của Ban Chấp hành Trung ương.

- Mỗi đồng chí Uỷ viên Trung ương đứng trên cương vị công tác được phân công ở cơ quan đảng, nhà nước, tổ chức quần chúng, tổ chức kinh tế, tổ chức quân đội, v.v. để giải quyết công việc; không lấy danh nghĩa thay mặt Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, trừ trường hợp được Bộ Chính trị, Ban Bí thư uỷ nhiệm.

- Các đồng chí Uỷ viên Trung ương được Ban Bí thư thông tin về tình hình chung trong nước, ngoài nước, về những công tác lớn hằng tháng, ba tháng, sáu tháng, một năm, kể cả về kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, và nội dung chính các phiên họp của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Khi có sự kiện đột xuất quan trọng, có ảnh hưởng đến tư tưởng, tâm lý xã hội thì thông báo bất thường.

Ngoài các phiên họp toàn thể Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư có thể mời các Uỷ viên Trung ương về tập trung (một nơi hoặc theo khu vực) để thông báo tình hình hoặc trao đổi, góp ý kiến về các vấn đề xét cần.

7. Đồng chí Tổng Bí thư chủ trì công việc của Ban Chấp hành Trung ương, của Bộ Chính trị và Ban Bí thư. Trực tiếp nắm các vấn đề trọng yếu và cơ mật về quốc phòng, an ninh. Chăm lo xây dựng Đảng, đặc biệt là xây dựng đội ngũ cán bộ cao cấp chủ chốt của Đảng.

8. Mỗi đồng chí Bí thư phụ trách một hoặc một số mặt công tác, một hoặc một số ban của Trung ương.

- Từng đồng chí Bí thư phải nắm chắc tình hình thuộc phạm vi mình phụ trách và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các nghị quyết, quyết định, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư về lĩnh vực công tác được phân công, và là người giải quyết công việc hằng ngày của Đảng về lĩnh vực đó trên cơ sở các nghị quyết của tập thể.

Từng đồng chí Bí thư trao đổi ý kiến với các đồng chí Bí thư khác về vấn đề có liên quan; đối với các vấn đề xét có tính chất quan trọng thì trao đổi với đồng chí Bí thư thường trực và xin ý kiến đồng chí Tổng Bí thư để giải quyết hoặc đưa ra tập thể Ban Bí thư giải quyết.

- Đồng chí Bí thư thường trực giải quyết công việc chung hằng ngày của Đảng, chỉ đạo công tác Văn phòng Trung ương; phối hợp hoạt động giữa các đồng chí Bí thư; thường xuyên và theo chế độ báo cáo tình hình với đồng chí Tổng Bí thư, khi đồng chí Tổng Bí thư vắng, thì chủ trì công việc của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và chủ toạ các phiên họp của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

- Các đồng chí Uỷ viên Trung ương là thành viên của Hội đồng Bộ trưởng, các đồng chí thủ trưởng các cơ quan chấp pháp (Viện Kiểm sát và Toà án nhân dân tối cao) không tham gia Ban Bí thư.

III
CHƯƠNG TRÌNH LÀM VIỆC, CHẾ ĐỘ HỘI NGHỊ
VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT

9. Ban Chấp hành Trung ương có chương trình làm việc hằng năm và định trước những vấn đề quan trọng nhất cần chuẩn bị để quyết định trong nhiệm kỳ; hằng năm sẽ xem xét để có bổ sung. Bộ Chính trị, Ban Bí thư có chương trình làm việc sáu tháng, ba tháng và lịch công tác hằng tháng, hằng tuần.

- Chương trình của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư phải bảo đảm thực hiện tốt Nghị quyết của Đại hội.

Các ban của Trung ương hoạt động theo chương trình làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, của Bộ Chính trị và Ban Bí thư.

- Trong chương trình công tác phải xác định rõ người hoặc cơ quan nào chuẩn bị, thời gian hoàn thành, v.v.. Trong chương trình công tác của Ban Bí thư có chương trình kiểm tra.

10. Bộ Chính trị mỗi năm một lần, Ban Bí thư sáu tháng một lần kiểm điểm hoạt động của mình, chú ý kiểm điểm cả việc lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, của Bộ Chính trị và xem xét về mức độ thực hiện chương trình công tác. Hằng năm tiến hành tự phê bình và phê bình cá nhân trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

11. Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương được triệu tập theo chương trình hằng năm của Ban Chấp hành Trung ương; các cuộc họp ngoài chương trình được triệu tập theo quyết định của Bộ Chính trị hoặc đề nghị của ít nhất 1/3 Uỷ viên Trung ương. Bộ Chính trị họp hai tuần một lần, Ban Bí thư họp một tuần một lần, trong tháng có một tuần nghỉ họp để các đồng chí lãnh đạo đi địa phương và cơ sở. Khi cần thiết thì họp bất thường.

Các nghị quyết, quyết định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư phải được quá 1/2 số Uỷ viên Bộ Chính trị hoặc quá 1/2 số Bí thư Trung ương biểu quyết thông qua mới có giá trị.

12. Các kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư phải được chuẩn bị chu đáo. Mỗi kỳ họp giải quyết một, hai vấn đề chính.

Để chuẩn bị đề án cho hội nghị Ban Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, các ban phải đề xuất với Ban Bí thư, Bộ Chính trị các vấn đề cần nghiên cứu, định hướng việc nghiên cứu, yêu cầu của đề án, cơ quan chủ trì nghiên cứu, thời hạn hoàn thành đề án. Đối với các đề án do cơ quan khác nghiên cứu, ban có liên quan phải theo dõi, góp ý kiến ngay từ đầu, thẩm tra lại đề án và trình ý kiến của mình với Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Việc nghiên cứu xây dựng các đề án cần phát huy đầy đủ khả năng của cơ quan nhà nước, các viện nghiên cứu, các đoàn thể quần chúng, các chuyên gia khoa học và quản lý, các Uỷ viên Trung ương phụ trách cùng lĩnh vực. Cơ quan nghiên cứu phải nêu vài phương án khác nhau, có tính toán hiệu quả cụ thể và đề xuất phương án tối ưu để tập thể lãnh đạo lựa chọn. Những vấn đề quan trọng và phức tạp phải tổ chức làm thử. Phải chuẩn bị trước các văn bản cụ thể hoá nghị quyết để kịp thời ban hành sau khi có nghị quyết.

Các đề án đưa ra hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương cần được gửi đến các Uỷ viên Trung ương, kèm theo những thông tin cần thiết (số liệu cơ bản, các ý kiến quan trọng khác nhau trong quá trình chuẩn bị đề án và tuỳ vấn đề mà kèm theo văn bản cụ thể hoá và thể chế hoá kịp thời sau khi có Nghị quyết để Trung ương tham khảo, góp ý kiến, v.v.), những vấn đề đề nghị lưu ý thảo luận, trước ngày họp ít nhất 15 ngày. Các Uỷ viên Trung ương cần gửi ý kiến của mình về đề án tới Ban Bí thư để cơ quan chuẩn bị đề án tổng hợp, báo cáo xin ý kiến Bộ Chính trị cho sửa đề án nếu có vấn đề cần sửa.

Tuỳ theo tính chất và tầm quan trọng của từng vấn đề, Bộ Chính trị có thể quyết định mời các Uỷ viên Trung ương có liên quan nhiều đến đề án về tham gia ý kiến trước khi đưa ra hội nghị.

Các đề án chuẩn bị đưa ra hội nghị Bộ Chính trị, Ban Bí thư cần được gửi đến các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị và các đồng chí Bí thư trước ngày họp ít nhất năm ngày.

13. ở hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương, đồng chí Tổng Bí thư và một số đồng chí trong Bộ Chính trị do Bộ Chính trị phân công sẽ điều hành hội nghị theo chương trình đã được hội nghị thông qua.

ở hội nghị Trung ương, các đồng chí Uỷ viên Trung ương phát biểu thẳng vào đề án hoặc dự thảo Nghị quyết, nói rõ điểm nào cần sửa đổi, bổ sung với lý do ngắn gọn. Hội nghị chú trọng thảo luận các vấn đề chưa nhất trí. Mỗi đồng chí tuân thủ nghiêm ngặt quy định về thời gian mỗi lần, mỗi người được phát biểu do hội nghị thông qua từ đầu phiên họp.

Tuỳ theo sự cần thiết, ở các cuộc họp của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị có thể quyết định họp mở rộng và báo cáo để Ban Chấp hành Trung ương biết.

Chế độ ghi biên bản, thông tin truyền đạt Nghị quyết hội nghị do Ban Bí thư quy định.

14. Ban Bí thư có kế hoạch thi hành Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương và của Bộ Chính trị, bảo đảm quán triệt tốt, chấp hành nghiêm; cần theo dõi, kiểm tra chặt chẽ và đánh giá kết quả việc thực hiện Nghị quyết chu đáo.

- Việc thông báo nội dung các phiên họp của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị trên đài, báo do Ban Bí thư quy định.

- Các ban có liên quan giúp Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết. Những vấn đề quan trọng sau khi ra nghị quyết có chỉ đạo riêng. Không ra nghị quyết mới nếu nghị quyết cũ tương tự chưa được thực hiện.

*
*   *

15. Các ban của Trung ương là cơ quan tham mưu chiến lược cần được kiện toàn để làm tốt chức năng giúp Trung ương chuẩn bị hoặc phối hợp chuẩn bị các nghị quyết, kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết, quản lý công tác cán bộ, bảo đảm giúp Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thực hiện đúng quy chế.

16. Ban Bí thư, thường xuyên là đồng chí Bí thư thường trực, chịu trách nhiệm tổ chức theo dõi việc thực hiện quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương. Và tuỳ vấn đề, đồng chí Bí thư thường trực trao đổi ý kiến với đồng chí Bí thư có liên quan.

Mỗi Uỷ viên Trung ương đề cao trách nhiệm trong việc thực hiện Quy chế này.

Hằng năm Ban Bí thư rút kinh nghiệm và thông báo việc thực hiện Quy chế này đến các Uỷ viên Trung ương.



T/M BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
TỔNG BÍ THƯ
 

NGUYỄN VĂN LINH
  



 

___________________

Nguồn: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tập 48, tr.323-335.

Các từ khóa theo tin:

In trang | Gửi góp ý


Các tin trước
Nghị quyết số 12-NQ/HNTW, Hội nghị Trung ương lần thứ mười hai (khoá VI) về thông qua các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (18/11/2015)
Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ mười (khóa VI) về dự thảo Báo cáo xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng và dự thảo Điều lệ Đảng (sửa đổi) (18/11/2015)
Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ mười (khóa VI) về phương hướng chỉ đạo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 1991 (18/11/2015)
Kết luận Hội nghị Trung ương lần thứ chín (khóa VI) về một số vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách (18/11/2015)
Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ chín (khóa VI) về dự thảo Cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ (18/11/2015)
Nghị quyết số 08B-NQ/HNTW Hội nghị Trung ương lần thứ tám (khoá VI) về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân (18/11/2015)
Nghị quyết số 08A-NQ/HNTW, Hội nghị Trung ương lần thứ tám (khoá VI) về tình hình các nước XHCN, sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc và nhiệm vụ cấp bách của Đảng ta (18/11/2015)
Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ bảy (khóa VI) một số vấn đề cấp bách về công tác tư tưởng trước tình hình trong nước và quốc tế hiện nay (18/11/2015)
Nghị quyết số 06-NQ/HNTW của Hội nghị Trung ương lần thứ sáu (khoá VI) Kiểm điểm hai năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI và phương hướng, nhiệm vụ ba năm tới (18/11/2015)
Nghị quyết số 05-NQ/TW của BCHTW về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng, bảo đảm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI của Đảng (18/11/2015)
 Trang 1 / 2 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin tiếp
Kết luận của Bộ Chính trị về những chủ trương và biện pháp cấp bách nhằm tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ hai (18/11/2015)
Kết luận của Bộ Chính trị về cuộc thảo luận Dự thảo Nghị quyết đổi mới cơ chế quản lý kinh tế (18/11/2015)
Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ hai (khóa VI) giải quyết những vấn đề cấp bách về phân phối, lưu thông (18/11/2015)
Đại hội đại biểu lần thứ VI của Đảng (năm 1986) (14/10/2015)
Niên biểu toàn khoá (14/10/2015)
Danh sách Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI (14/10/2015)
Diễn văn bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng do đồng chí Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí thư BCHTW Đảng (khoá VI), trình bày ngày 18/12/1986 (14/10/2015)
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam về bổ sung và sửa đổi một số điểm cụ thể trong Điều lệ Đảng (ngày 18/12/1986) (14/10/2015)
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (14/10/2015)
Báo cáo của BCHTW Đảng Cộng sản Việt Nam về phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triển KT-XH trong 5 năm 1986 - 1990 (14/10/2015)
 Trang 1 / 2 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
TƯ LIỆU VĂN KIỆN
      - DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XII
      - DANH SÁCH BỘ CHÍNH TRỊ KHÓA XII
      - DANH SÁCH BAN BÍ THƯ KHÓA XII
      - TỔNG BÍ THƯ QUA CÁC THỜI KỲ
      - BỘ CHÍNH TRỊ, BAN BÍ THƯ, BCH TW
      - CÁC ĐẢNG BỘ TRỰC THUỘC TW
 
VIDEO
Đổi mới công tác đánh giá cán bộ theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng
AUDIO
Báo chí quốc tế tiếp tục đưa tin về chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Hoa Kỳ
Tổng thống Barack Obama và Chủ tịch Quốc hội thăm nhà sàn Bác Hồ
Truyền thông quốc tế đưa tin về việc Hoa Kỳ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí với Việt Nam
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tiếp Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama
Ảnh thời sự
Trưng bày các phương tiện phòng cháy, chữa cháy hiện đại nhất
Liên hoan phim quốc tế Hà Nội lần thứ IV
“Đêm hội trăng rằm - Đưa Trung thu về với biển đảo”
Bảo tồn di tích Những địa điểm Khởi nghĩa Yên Thế
Công bố Quyết định thành lập Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2016-2021
Từ Đại hội đến Đại hội
 Đại hội II
 Đại hội III
 Đại hội IV
 Đại hội V
 Đại hội VI
 Đại hội VII
 Đại hội VIII
 Đại hội IX
 Đại hội X
 Đại hội XI
 Đại hội XII
 
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : dangcongsan@cpv.org.vn
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet