Hôm nay, ngày 24 tháng 5 năm 2017 Trang chủ  Báo điện tử ĐCSVN  Giới thiệu  Sitemap  Liên hệ  English  Français   
 
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá V) về những nhiệm vụ cấp bách trong công tác cải tiến quản lý kinh tế
11:31 | 26/11/2015

NGHỊ QUYẾT
HỘI NGHỊ LẦN THỨ SÁU
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG (KHÓA V)

Về những nhiệm vụ cấp bách trong công tác cải tiến quản lý kinh tế

----------------------------------



I. TÌNH HÌNH QUẢN LÝ KINH TẾ HIỆN NAY VÀ PHƯƠNG HƯỚNG CẢI TIẾN QUẢN LÝ KINH TẾ NHỮNG NĂM TRƯỚC MẮT

1- Thực hiện Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ V của Đảng, những năm qua, nhân dân ta đã vượt qua nhiều khó khăn, đạt được những thành tựu quan trọng trong việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Nông nghiệp, nhất là sản xuất lương thực, có bước tiến bộ đáng kể; công nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải đều có chuyển biến tích cực. Kim ngạch xuất khẩu tăng khá, tuy còn rất thấp so với nhu cầu nhập khẩu.

Tình hình kinh tế nước ta đã vượt qua những thử thách gay gắt, bước đầu khắc phục tình trạng sút kém trong những năm 1979-1980, song còn rất nhiều khó khăn và mất cân đối lớn. Tình hình đó bắt nguồn sâu xa từ một nền kinh tế kém phát triển, trải qua chiến tranh lâu dài, lại phải đương đầu với kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của bọn phản động trong giới cầm quyền Bắc Kinh câu kết với đế quốc Mỹ, và chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới; mặt khác do có nhiều khuyết điểm trong bố trí cơ cấu kinh tế, tổ chức sản xuất, cơ chế quản lý và trong chỉ đạo điều hành.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương (khoá IV), Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ V, và tiếp theo là nghị quyết của các Hội nghị lần thứ ba, tư, thứ năm Ban Chấp hành Trung ương đã đề ra nhiệm vụ cải tiến công tác quản lý theo hướng mở rộng quyền chủ động, sáng tạo cho cơ sở và địa phương, dưới sự quản lý tập trung thống nhất của Trung ương về những mặt cơ bản, khuyến khích mạnh mẽ người lao động hăng hái sản xuất.

Duới ánh sáng của các nghị quyết của Đảng và dựa trên những kinh nghiệm thực tế phong phú của những điển hình tốt xuất hiện ở các địa phương, các ngành và các cơ sở, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm cải tiến một số mặt trong quản lý kinh tế có tác động tích cực đến sản xuất, kinh doanh. Nổi bật nhất là chính sách khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong nông nghiệp, chính sách mở rộng quyền chủ động sản xuất, kinh doanh và kế hoạch hoá ở các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, chính sách xuất, nhập khẩu... Công tác kế hoạch hoá bắt đầu được sửa đổi theo hướng xây dựng và cân đối kế hoạch từ cơ sở, chú trọng phát huy khả năng của các ngành, các địa phương; một số chính sách, chế độ về phân phối, lưu thông đã được cải tiến một bước; công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa sau một thời gian bị buông lỏng có tiến bộ rõ; sự phân cấp giữa trung ương, địa phương, cơ sở và việc kiện toàn cấp huyện đang được xúc tiến. Đội ngũ cán bộ được sắp xếp lại một bước; công tác bồi dưỡng cán bộ về kiến thức quản lý được chú trọng hơn.

Thực tế chứng minh rằng, trong điều kiện kinh tế- xã hội hiện nay, thấu suốt và cụ thể hoá đường lối đúng đắn của Đảng bằng một cơ cấu kinh tế hợp lý và một cơ chế quản lý thích hợp, phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động ở từng cơ sở, từng địa phương, từng ngành, động viên được sức mạnh tổng hợp của cả nước, thì chúng ta có khả năng tạo ra một chuyển biến mạnh mẽ trong đời sống kinh tế- xã hội.

2- Tuy nhiên, những tiến bộ và chuyển biến trong quản lý kinh tế chưa đồng đều, chưa mạnh mẽ, chưa cơ bản. Công tác quản lý kinh tế còn nhiều khuyết điểm và nhược điểm, trong đó có những mặt kéo dài và nghiêm trọng, không được cải tiến kịp thời phù hợp với tình hình mới.

Việc sắp xếp lại cơ cấu kinh tế và tổ chức lại sản xuất làm chậm, kéo dài tình trạng phân tán, chồng chéo, chia cắt.

Việc phân công giữa các cơ quan trung ương và phân cấp quản lý kinh tế giữa trung ương, địa phương và cơ sở, việc xây dựng kinh tế huyện và kiện toàn cấp huyện làm chậm và chưa thật gắn với cơ sở.

Cơ chế quản lý còn mang nặng tính chất quan liệu, bao cấp; còn nhiều gò bó đối với cơ sở và địa phương, chưa phát huy mạnh mẽ tính chủ động, sáng tạo của cơ sở và địa phương; đồng thời chưa bảo đảm sự quản lý tập trung, thống nhất cần thiết của trung ương.

Kế hoạch chưa làm tốt vai trò là trung tâm của hệ thống quản lý, chưa thực hiện tốt các chủ trương về cải tiến kế hoạch hoá, như: xây dựng từ cơ sở, từ địa phương và từ các ngành lên, dựa trên cơ sở tiến bộ khoa học- kỹ thuật, cân đối từ bốn nguồn khả năng; gắn kế hoạch hiện vật với kế hoạch tài chính, gắn kế hoạch với hạch toán kinh tế và các chính sách đòn bẩy, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, với các lĩnh vực văn hoá, xã hội. Kế hoạch Nhà nước vừa chưa có tính pháp lệnh nghiêm ngặt, vừa chưa khuyến khích tính năng động, sáng tạo của ngành, địa phương và cơ sở.

Hạch toán kinh tế mang tính chất hình thức, không phản ánh đúng thực chất hiệu quả của sản xuất, kinh doanh, phục vụ.

Nhiều chính sách, nhất là chính sách giá, lương, tài chính, tín dụng... mang nặng tính chất bao cấp, cứng nhắc, không phù hợp với thực tế; chưa gắn trách nhiệm với quyền hạn, nghĩa vụ với lợi ích của người lao động cũng như của từng đơn vị, từng ngành, từng địa phương; chưa khuyến khích mạnh mẽ tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả, còn lãng phí nghiêm trọng. Trên lĩnh vực phân phối lưu thông, có nhiều thiếu sót và yếu kém, nhất là buông lỏng cải tạo và quản lý thị trường; thị trường xã hội chủ nghĩa chậm mở rộng và củng cố; thị trường tự do và chợ đen phát triển hỗn loạn. Giá cả thoát ly giá trị, biến động tự phát; hệ thống tiền lương có nhiều bất hợp lý; tài chính thiếu hụt nghiêm trọng, đồng tiền liên tục mất giá.

Bộ máy quản lý nặng nề, quan liêu và kém hiệu lực. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm không được phân định rõ ràng; có quá nhiều đầu mối và cấp trung gian không cần thiết, biên chế hành chính và phi sản xuất quá lớn. Công tác bố trí, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ chậm được cải tiến.

Pháp chế xã hội chủ nghĩa không nghiêm, nhiều luật lệ kinh tế chậm được bổ sung. Chế độ trách nhiệm, nhất là trách nhiệm cá nhân, và chế độ kỷ luật không được chấp hành nghiêm túc; nhiều nguyên tắc, chế độ làm việc không được tôn trọng; nhiều hiện tượng tiêu cực phát triển.

Những khuyết điểm nói trên là biểu hiện của tệ quan liêu, bao cấp, bảo thủ trì trệ trong cơ chế quản lý kinh tế, và tình trạng phân tán, cục bộ, vô tổ chức, vô kỷ luật. Những khuyết điểm ấy hoàn toàn trái với đường lối của Đảng ta, với bản chất của chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, hạn chế việc phát huy những tiềm năng và những khả năng hiện thực của đất nước, gây cản trở cho sản xuất và kinh doanh, cho việc củng cố và phát triển quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, cải thiện đời sống của nhân dân lao động, gây thiệt hại cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Có những khuyết điểm đó là do: chưa đánh giá đầy đủ tình hình kinh tế- xã hội, chưa nắm vững những đặc điểm của chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội; chậm cụ thể hoá đường lối kinh tế thành những chính sách, chế độ quản lý đúng đắn; thiếu sự nhất trí sâu sắc ở các cấp trong một số chủ trương phát triển kinh tế và quản lý kinh tế; chỉ đạo thực hiện còn kém, chưa sát thực tế, không tập trung, đồng bộ; thiếu kiên quyết, kém năng động; kỷ luật chấp hành nghị quyết không nghiêm; thiếu kiểm tra, thanh tra chặt chẽ, chậm tổng kết kinh nghiệm; chưa làm tốt việc giáo dục cán bộ, đảng viên và việc sắp xếp, bồi dưỡng cán bộ quản lý kinh tế.

Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Hội đồng Bộ trưởng có trách nhiệm về các khuyết điểm nói trên. Đồng thời, mỗi Uỷ viên Trung ương Đảng, mỗi ngành, mỗi cấp đều có phần khuyết điểm và trách nhiệm của mình. Theo tinh thần của các nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá V), các ngành, các cấp, các cơ sở cần nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình, khắc phục cho được những khuyết điểm ấy.

3- Nhằm thực hiện 4 mục tiêu kinh tế- xã hội của những năm 80 do Đại hội lần thứ V của Đảng đề ra, phương hướng và yêu cầu chủ yếu của việc cải tiến quản lý kinh tế trong thời gian tới là:

a) Phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, thực hiện ba cấp cùng làm chủ, động viên sức mạnh tổng hợp của cả nước nhằm khai thác tốt nhất các tiềm năng, đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh với năng xuất, chất lượng, hiệu quả ngày càng cao.

Tăng cường các cơ sở công nghiệp (xí nghiệp, xí nghiệp liên hợp và liên hiệp các xí nghiệp) và các huyện gắn với hợp tác xã.

Cơ chế quản lý kinh tế mới phải thấu suốt nguyên tắc tập trung dân chủ, lấy kế hoạch làm trung tâm, gắn kế hoạch với hạch toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa.

Mở rộng quyền chủ động, sáng tạo, xác lập quyền tự chủ tài chính của các đơn vị sản xuất, kinh doanh, mở rộng quyền chủ động của các địa phương dưới sự quản lý tập trung thống nhất của trung ương, gắn chặt nghĩa vụ với lợi ích, trách nhiệm với quyền hạn ở mỗi ngành, mỗi cấp và trong từng đơn vị cơ sở.

Tiếp tục thực hiện việc phân công, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương (tỉnh, thành phố, huyện, quận); xây dựng và kiện toàn các ngành kinh tế- kỹ thuật; kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ; đẩy mạnh xây dựng huyện và kiện toàn cấp huyện.

b) Củng cố và phát triển thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh; đẩy mạnh cải tạo kết hợp với xây dựng, kiên quyết chống các hiện tượng tiêu cực, chống sự phá hoại của địch, phát triển sản xuất gắn liền với bảo vệ sản xuất, giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh quyết liệt giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, giữa ta và địch; thiết lập trật tự xã hội chủ nghĩa trong kinh tế và xã hội theo đường lối của Đảng.

c) Tiếp tục cải tiến công tác phân phối, lưu thông một cách tích cực và vững chắc, thiết lập trật tự xã hội chủ nghĩa trong phân phối lưu thông.

Trên cơ sở phát triển sản xuất là gốc và đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa, tích cực củng cố và mở rộng thương nghiệp xã hội chủ nghĩa; tăng cường quản lý thị trường; xoá bỏ tư sản thương nghiệp, loại trừ trợ đen; xoá bỏ thị trường tự do về những mặt hàng do Nhà nước độc quyền kinh doanh. Điều chỉnh kịp thời các chính sách giá cả, tiền lương, tài chính, tiền tệ, thực hiện thống nhất hài hoà ba lợi ích, vận dụng đúng đắn nguyên tắc phân phối theo lao động, phù hợp với tình hình thực tế, phục vụ tốt hơn sản xuất, kinh doanh xã hội chủ nghĩa; ổn định và từng bước cải thiện đời sống của người lao động, nhất là công nhân, cán bộ, lực lượng vũ trang; đồng thời chăm lo tích luỹ cho công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quốc phòng và an ninh.

d) Chấn chỉnh bộ máy quản lý, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, phục vụ đắc lực cho cơ sở. Từ phân định rõ và kết hợp tốt chức năng quản lý Nhà nước về hành chính kinh tế và quản lý sản xuất, kinh doanh, mà quy định rõ nhiệm vụ và quyền hạn của từng đơn vị và từng người; kiện toàn và tinh giản bộ máy, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, chế độ kỷ luật và chế độ trách nhiệm.

4- Trước mắt, phải tạo ra một chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý kinh tế, tập trung giải quyết hai loại vấn đề sau đây:

- Một là: phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tính chủ động, sáng tạo và mọi khả năng của các cơ sở, tổ chức lại sản xuất, từng bước xây dựng cơ chế quản lý mới, phân công, phân cấp quản lý đúng đắn.

- Hai là: giải quyết một số vấn đề cấp bách về phân phối lưu thông, đặc biệt là các lĩnh vực thị trường-giá-lương-tiền, nhằm phục vụ tốt cơ sở, đồng thời giải quyết đúng đắn các mối quan hệ phân phối trong nền kinh tế quốc dân.

Hai mặt đó là một thể thống nhất, phục vụ lẫn nhau, tạo điều kiện và tiền đề cho nhau.

II- CẢI TIẾN QUẢN LÝ CÁC ĐƠN VỊ CƠ SỞ

A- Sắp -xếp và tổ chức lại sản xuất

1- Theo phương hướng cơ cấu kinh tế mà Đại hội toàn quốc lần thứ V của Đảng đã vạch ra, cần khẩn trương sắp xếp lại các cơ sở sản xuất, kinh doanh.

Tập trung những điều kiện sản xuất trong nước, tích cực huy động các khả năng nhập khẩu, triệt để tiết kiệm (trước hết là tiết kiệm điện, xăng dầu, than, nguyên liệu...) để sản xuất những sản phẩm trọng yếu nhất, ưu tiên cho những cơ sở quốc doanh quan trọng có điều kiện sản xuất ổn định, có hiệu quả kinh tế cao nhất.

Trong năm 1984, cần xác định danh mục những sản phẩm trọng yếu của nền kinh tế quốc dân và danh mục những cơ sở sản xuất cần được ưu tiên. Theo đó, các bộ, các địa phương cùng với cơ sở sắp xếp lại các xí nghiệp quốc doanh trung ương và địa phương, khắc phục tình trạng phân tán, chia cắt, chồng chéo. Những cơ sở không có điều kiện sản xuất theo nhiệm vụ thiết kế cần được giúp đỡ chuyển hướng sản xuất, thay đổi phương án sản phẩm, nhằm duy trì và sử dụng có lợi nhất các năng lực sản xuất hiện có. Kiên quyết giải thể những cơ sở không có khả năng bảo đảm sản xuất có hiệu quả, thua lỗ kéo dài.

Trên cơ sở phân vùng quy hoạch nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp trong cả nước, đẩy mạnh việc xây dựng quy hoạch của từng huyện, tạo ra cơ cấu kinh tế nông- công nghiệp thích hợp; đối với các huyện trọng điểm phải hoàn thành quy hoạch trong năm 1984.

Tiếp tục củng cố và tăng cường các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp; kiện toàn và nâng cao chất lượng các nông, lâm trường, các quốc doanh đánh cá; sắp xếp lại và kiện toàn các cơ sở quốc doanh dịch vụ- kỹ thuật phục vụ nông, lâm, ngư nghiệp; ổn định phương hướng sản xuất, quy mô và tổ chức hợp lý; tạo điều kiện cho hợp tác xã và nông, lâm trường vừa bảo đảm nhiệm vụ sản xuất chính, vừa phát triển sản xuất tổng hợp, mở mang ngành nghề, thực hiện chuyên môn hoá theo ngành và theo quy hoạch vùng. Đẩy mạnh xây dựng các hợp tác xã mua bán, hợp tác xã tín dụng nhằm hỗ trợ và phục vụ các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp và phục vụ đời sống. Trong năm 1985, cơ bản hoàn thành công cuộc hợp tác hoá ở Nam Bộ với các hình thức thích hợp.

2- Kiện toàn các tổ chức liên hiệp sản xuất với hình thức và quy mô phù hợp với điều kiện tích tụ và chuyên môn hoá sản xuất cũng như trình độ và điều kiện quản lý. Kiện toàn và xây dựng các liên hiệp xí nghiệp toàn quốc ở những ngành có điều kiện và có yêu cầu tổ chức liên hiệp thống nhất trong cả nước (như hàng không, đường sắt, vận tải viễn dương, bưu điện,...) ở các ngành khác thì tuỳ theo điều kiện và yêu cầu cụ thể mà tổ chức những xí nghiệp liên hiệp, liên hiệp những xí nghiệp địa phương và khu vực hoặc tổ hợp nông- công nghiệp. Các tổ chức liên hợp phải là tổ chức sản xuất kinh doanh, thực hiện hạch toán kinh tế và quyền tự chủ tài chính. Tiến hành thí điểm những hình thức liên hiệp khoa học- sản xuất ở những nơi có điều kiện thích hợp.

Phát triển các quan hệ hợp tác liên doanh, liên kết đa dạng giữa các cơ sở kinh tế trung ương và địa phương trên cùng một địa bàn, giữa các địa phương, giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế quốc doanh phải làm tốt vai trò nòng cốt.

Trong liên kết giữa đơn vị sản xuất nguyên liệu với công nghiệp, phải bảo đảm sự hài hoà về lợi ích giữa người sản xuất nguyên liệu , cơ sở chế biến, và tích luỹ cho ngân sách, trong đó cần chú ý thích đáng đến lợi ích của cơ sở sản xuất nguyên liệu.

3- Khẩn trương thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương về phân cấp quản lý kinh tế, xây dựng huyện và tăng cường cấp huyện, làm tốt việc phân cấp trên các lĩnh vực kế hoạch hoá, tài chính, thương nghiệp, xuất- nhập khẩu.

Việc phân giao các cơ sở cho ngành hay địa phương (tỉnh, huyện) trực tiếp quản lý phải lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chuẩn hàng đầu.

Việc phân cấp quản lý và phân giao cơ sở phải làm xong về cơ bản trong năm 1984 đối với những địa bàn trọng điểm và hoàn thành trong năm 1985, có chuẩn bị chu đáo về mọi mặt trên cơ sở xem xét đầy đủ các điều kiện cụ thể của từng trường hợp. Chú ý đến những đặc điểm và yêu cầu của các thành phố lớn, như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan bàn giao cơ sở phải tạo điều kiện cho cơ quan tiếp nhận quản lý tốt. Cơ quan tiếp nhận có trách nhiệm bảo đảm các cơ sở thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ, nhất là về giao nộp sản phẩm và các khoản nộp ngân sách.

Ban Bí thư và Hội đồng Bộ trưởng tăng cường chỉ đạo các ngành, các cấp phối hợp chặt chẽ trong công tác xây dựng huyện, tạo điều kiện cho cấp huyện trực tiếp chỉ đạo các cơ sở sản xuất, thu mua, cung cấp vật tư kỹ thuật, thương nghiệp dịch vụ, tín dụng, giao thông vận tải, tổ chức đời sống vật chất và văn hoá trên địa bàn huyện, kết hợp kinh tế với quốc phòng, bảo đảm an ninh, trật tự.

B- Cải tiến cơ chế quản lý các đơn vị cơ sở sản xuất.

1- Đối với xí nghiệp công nghiệp quốc doanh:

a) Về kế hoạch hoá:

Mở rộng quyền hạn và trách nhiệm của xí nghiệp trong công tác kế hoạch hoá, bảo đảm kế hoạch thực sự được xây dựng từ cơ sở, dưới sự hướng dẫn của cấp trên, phù hợp với phương hướng và cân đối chung của nền kinh tế quốc dân. Kế hoạch sản xuất- kỹ thuật- tài chính của xí nghiệp là một thể thống nhất được cân đối từ bốn nguồn (bao gồm nguồn Nhà nước cung ứng và các nguồn khác do xí nghiệp tự khai thác).

Những chỉ tiêu pháp lệnh áp dụng đối với các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh gồm có:

- Giá trị sản lượng hàng hoá thực hiện (có phần cho xuất khẩu).

- Sản phẩm giao nộp (có phần cho xuất khẩu) theo chỉ tiêu chất lượng quy định trong hợp đồng.

- Mức giảm giá thành.

- Lợi nhuận và các khoản nộp ngân sách.

- Những vật tư chủ yếu do Nhà nước cung ứng.

- Các chỉ tiêu pháp lệnh được xây dựng trên cơ sở kế hoạch của xí nghiệp đăng ký từ đầu năm kế hoạch.

Đối với phần sản phẩm trong chỉ tiêu pháp lệnh được cân đối bằng nguồn vật tư do xí nghiệp tự kiếm thì xí nghiệp được hạch toán giá thành theo giá vật tư thực mua, được sử dụng một phần sản phẩm (đã được ghi trong kế hoạch) để đối lưu lấy vật tư cho sản xuất, và được hưởng tỷ lệ lợi nhuận cao hơn so với phần sản phẩm được cân đối bằng nguồn vật tư do Nhà nước cung ứng, để trích lập các quỹ xí nghiệp.

Nhà nước cho phép và khuyến khích xí nghiệp khai thác mọi tiềm năng để sản xuất thêm các sản phẩm ngoài chỉ tiêu pháp lệnh.

b) Về cung ứng vật tư và tiêu thụ sản phẩm: Các cơ quan cung ứng phải bảo đảm cung ứng vật tư, năng lượng cho xí nghiệp theo kế hoạch và hợp đồng, đúng số lượng, chất lượng, thời gian, địa điểm và giá chỉ đạo; hai bên ký hợp đồng phải nghiêm chỉnh thực hiện hợp đồng; bên nào vi phạm thì phải bồi thường thiệt hại và chịu phạt. Xí nghiệp phải giao nộp sản phẩm đầy đủ theo kế hoạch Nhà nước và hợp đồng đã ký kết. Nếu tổ chức tiêu thụ không nhận theo đúng hợp đồng và kế hoạch Nhà nước, thì theo quyết định của trọng tài kinh tế, xí nghiệp được quyền tiêu thụ cho những cơ quan, xí nghiệp khác. Nghiêm cấm các xí nghiệp và các cơ quan, cơ sở kinh tế tự ý nâng giá, bán sản phẩm, vật tư ra thị trường tự do.

Nhà nước phải sớm ban hành các quy định chặt chẽ về hợp đồng kinh tế; thi hành nghiêm túc chế độ quyết toán thực hiện hợp đồng, nâng cao vai trò của trọng tài kinh tế trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế.

c) Về chế độ tự chủ tài chính của xí nghiệp.

Khi giao nộp sản phẩm, các xí nghiệp được thanh toán bằng giá bán buôn xí nghiệp dựa trên giá thành được duyệt và có lợi nhuận thoả đáng. Sửa đổi định mức lợi nhuận và thể thức tính lợi nhuận nhằm làm cho phần lợi nhuận xí nghiệp được hưởng chỉ phụ thuộc và quy mô phát triển sản xuất, năng xuất và hiệu quả của xí nghiệp.

Để lại cho xí nghiệp một phần quỹ khấu hao cơ bản và một tỷ lệ lợi nhuận cao hơn hiện nay, để xí nghiệp có khả năng khôi phục tài sản cố định, tiến hành đầu tư chiều sâu và bổ sung vốn lưu động.

Xí nghiệp được vay ngân hàng vốn đầu tư xây dựng cơ bản và vốn lưu động, có thể vay cả vốn ngoại tệ.

Trên cơ sở quy định mới về lợi nhuận xí nghiệp, xác định lại các quỹ xí nghiệp, gắn việc lập các quỹ xí nghiệp với hiệu quả hoạt động của xí nghiệp; không hạn chế mức tối đa quỹ tiền thưởng, nhưng khi quỹ tiền thưởng vượt quá mức quy định thì phải trích nộp theo tỷ lệ luỹ tiến vào ngân sách Nhà nước.

Cải tiến chế độ thu quốc doanh theo hướng bảo đảm nguồn thu cố định vào ngân sách đối với từng loại sản phẩm mà giá thành và giá bán buôn xí nghiệp đã được xác định, không phụ thuộc vào mức giá thành do xí nghiệp thực hiện hằng năm.

Bổ sung những quy định nhằm tập trung vào ngân sách Nhà nước tuyệt đại bộ phận những khoản thu do chênh lệch giá theo chính sách của Nhà nước, trong đó phần lớn phải nộp cho ngân sách trung ương.

d) Về hạch toán giá thành:

Từng bước hạch toán đầy đủ tiền lương, khấu hao cơ bản, giá trị vật tư nhập khẩu vào giá thành. Những khoản phạt do vi phạm hợp đồng, những khoản lỗ và những khoản chi khác do thiếu sót về quản lý không được hạch toán vào giá thành mà phải do nguồn lợi nhuận của xí nghiệp trang trải. Quy định phân biệt các loại giá bán buôn xí nghiệp nhằm khuyến khích ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật, tiết kiệm vật tư, năng lượng, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo sản phẩm mới, hạn chế các sản phẩm có chất lượng kém. Khuyến khích sản xuất phụ tùng, dịch vụ sửa chữa. Đối với những vật tư do xí nghiệp tự kiếm (không thuộc danh mục Nhà nước độc quyền kinh doanh), xí nghiệp được hạch toán vào giá thành theo giá thực mua và được hưởng giá bán buôn xí nghiệp cao hơn, đủ bù đắp chi phí thực tế hợp lý và có lãi.

đ) Về lao động, tiền lương và tiền thưởng:

Cải tiến kế hoạch hoá quỹ lương trên cơ sở định mức và đơn giá được tính toán có căn cứ và được duyệt. Xí nghiệp được nhận tiền lương theo mức độ hoàn thành chỉ tiêu giá trị sản lượng hàng hoá thực hiện và sản phẩm giao nộp. Vận dụng phổ biến chế độ khoán sản phẩm, thực hiện hạch toán đến tổ, đội sản xuất. Cải tiến chế độ tiền thưởng, đặc biệt chú trọng chế độ thưởng về nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm vật tư, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế v.v... Giao cho giám đốc xí nghiệp quyền lựa chọn và áp dụng các hình thức trả lương và thưởng theo chính sách và chế độ Nhà nước, kể cả đối với cán bộ quản lý và cán bộ khoa học, kỹ thuật của xí nghiệp. Giao cho giám đốc xí nghiệp quyền quản lý quỹ lương, gắn việc trả lương với kết quả lao động của mỗi người.

Mở rộng quyền hạn và trách nhiệm của giám đốc xí nghiệp trong việc tuyển dụng, đào tạo, sắp xếp và cho thôi việc đối với người lao động. Thực hiện chế độ hợp đồng lao động, xác định rõ trách nhiệm và quyền hạn giữa người lao động và xí nghiệp.

Trên cơ sở các nguyên tắc và chủ trương quản lý đối với xí nghiệp công nghiệp nêu trên, Hội đồng Bộ trưởng quy định cơ chế quản lý phù hợp đối với các đơn vị kinh tế quốc doanh trong các ngành và lĩnh vực khác, như xây dựng, vận tải, nông, lâm, ngư nghiệp, kể cả các xí nghiệp trong quốc phòng, an ninh và trong các lĩnh vực văn hoá, giáo dục, xã hội v.v...

2- Đối với hợp tác xã và tập đoàn sản xuất nông nghiệp:

Dưới sự chỉ đạo của chính quyền huyện và xã, đại hội xã viên quyết định kế hoạch của hợp tác xã. Nhà nước thông qua các chính sách đòn bẩy, cung ứng vật tư kỹ thuật, hợp đồng kinh tế, các hình thức tổ chức liên kết, liên doanh để chỉ đạo các hợp tác xã xây dựng kế hoạch.

Chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh giao cho hợp tác xã gồm hai loại, thể hiện trong hợp đồng kinh tế được ký từ đầu vụ:

- Khối lượng sản phẩm hợp tác xã bán cho Nhà nước theo chất lượng và giá cả được xác định trong hợp đồng kinh tế (trong đó có phần dành cho xuất khẩu).

- Các điều kiện vật chất (năng lương, vật tư, nguyên liệu, máy móc, dịch vụ...) Nhà nước cung ứng cho hợp tác xã theo số lượng, chất lượng, giá cả, địa điểm, thời gian quy định và tiền ứng trước.

Hợp tác xã phải làm đầy đủ các nghĩa vụ về nộp thuế, thực hiện chế độ kế toán theo pháp luật Nhà nước, chịu sự kiểm tra của cơ quan tài chính, ngân hàng Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ.

Các cơ quan cung ứng vật tư, các cơ sở dịch vụ kinh tế- kỹ thuật phục vụ nông nghiệp và các hợp tác xã phải thực hiện nghiêm chỉnh các hợp đồng đã ký, trong đó ghi rõ các hình thức khuyến khích vật chất và bồi thường thiệt hại.

Cần tổng kết công tác tổ chức quản lý hợp tác xã, đặc biệt chú ý tiếp tục hoàn thiện cơ chế khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động; tăng cường sở hữu tập thể, củng cố các đội cơ bản, các đội hay tổ chuyên khâu; đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng; có chính sách đãi ngộ thích đáng các cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, nghiệp vụ gắn với kết quả sản xuất, kinh doanh của hợp tác xã.

Trên cơ sở các nguyên tắc và chủ trương về cơ chế quản lý đối với hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, Hội đồng Bộ trưởng quy định cơ chế quản lý phù hợp với các hợp tác xã trong các ngành nghề khác, như lâm nghiệp, ngư nghiệp, tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp, xây dựng, vận tải.

III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẤP BÁCH VỀ PHÂN PHỐI, LƯU THÔNG

Hiện nay tình hình sản xuất còn rất khó khăn, nhiều mặt mất cân đối, nhất là lương thực, năng lượng vật tư; cán cân thanh toán quốc tế thâm hụt nặng, ngân sách Nhà nước bội chi lớn; tiền lạm phát nhiều; thị trường tự do còn quá rộng; giá cả biến động mạnh; đời sống của nhân dân lao động, trước hết là công nhân, cán bộ và lực lượng vũ trang, còn nhiều khó khăn; quan hệ về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội rất bất hợp lý.

Trước tình hình ấy, việc cải tiến công tác phân phối, lưu thông phải nhằm những mục tiêu sau đây:

- Thúc đẩy phát triển sản xuất với năng xuất, chất lượng và hiệu quả ngày càng cao.

- ổn định và từng bước cải thiện đời sống của nhân dân lao động, trước hết là công nhân, cán bộ và lực lượng vũ trang; điều tiết hợp lý thu nhập của các tầng lớp dân cư.

- Củng cố nền tài chính quốc gia, bảo đảm dự trữ Nhà nước, từng bước tích luỹ cho công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa.

- Thiết lập trật tự xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực phân phối lưu thông.

Để đạt được các mục tiêu đó, trên lĩnh vực phân phối, lưu thông trong một số năm trước mắt, cần tiến hành đồng thời hai loại công việc:

Một mặt, trên cơ sở phát triển sản xuất, phải đẩy mạnh thu mua nắm nguồn hàng và mở rộng thương nghiệp xã hội chủ nghĩa; tích cực cải tạo và quản lý chặt chẽ thị trường tự do; cấm tư thương kinh doanh những mặt hàng do Nhà nước thống nhất quản lý; chống đầu cơ, buôn lậu; loại trừ trợ đen.

Mặt khác, phải khẩn trương điều chỉnh các chính sách về giá cả, tiền lương, tài chính, tiền tệ cho phù hợp với tình hình kinh tế- tài chính đã thay đổi và chưa ổn định, nhằm phục vụ tốt hơn cho sản xuất, kinh doanh xã hội chủ nghĩa và đời sống của người lao động.

Chính sách phân phối phải giải quyết đúng đắn các mối quan hệ cơ bản của nền kinh tế quốc dân, quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động, xoá bỏ chế độ bao cấp, làm cho người lao động hăng hái sản xuất, kết hợp hài hoà các loại lợi ích: lợi ích của toàn xã hội, của tập thể và của người lao động; lợi ích của trung ương, của địa phương và của cơ sở.

1- Về quản lý thị trường và thương nghiệp:

Các ngành và các địa phương phải khẩn trương, nghiêm túc thi hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 14 của Bộ Chính trị và các nghị quyết của Hội đồng Bộ trưởng về cải tạo thương nghiệp tư doanh và quản lý thị trường. Những công việc cấp bách phải làm ngay là:

Tiến hành ngay trong năm 1984 và thực hiện xong trong năm 1985 việc Nhà nước thống nhất quản lý và kinh doanh lương thực và vật tư chiến lược, hàng công nghiệp thiết yếu do quốc doanh sản xuất hoặc gia công và hàng nhập khẩu. Đối với các nông, lâm, hải sản quan trọng ở những vùng sản xuất tập trung, cũng phải cơ bản làm xong trong năm 1985 việc Nhà nước thống nhất quản lý và kinh doanh.

Triển khai trong năm 1984 các kế hoạch cải tạo, sắp xếp và quản lý thị trường, nhất là ở những thành phố lớn, như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ.

Tiến hành khẩn trương và hoàn thành sớm việc xoá bỏ tư sản thương nghiệp. Thương nghiệp xã hội chủ nghĩa phải tích cực chiếm lĩnh thị trường ở những vùng tập trung nông sản hàng hoá, tuyệt đối không để tư thương tranh mua với Nhà nước.

Đẩy mạnh huy động lương thực và các nông sản khác. Trước hết phải tận thu thuế, thu nợ. Làm tốt việc thu mua theo hợp đồng hai chiều, ngoài ra mới mua theo giá thoả thuận. Đưa vào hợp đồng hai chiều chủ yếu là tư liệu sản xuất; nơi nào người sản xuất có nhu cầu thì đưa thêm một phần hàng tiêu dùng thiết yếu, kể cả lương thực. Không dùng hàng công nghiệp để đổi trực tiếp hoặc bù thêm vào giá mua nông, lâm, thuỷ sản.

Phân bố rành mạch bốn quỹ hàng hoá: quỹ hàng cung cấp cho công nhân, cán bộ và lực lượng vũ trang; quỹ hàng đối lưu theo hợp đồng hai chiều; quỹ hàng xuất khẩu; quỹ hàng bán lẻ cho các nhu cầu xã hội. Quỹ vật tư, hàng hoá giành cho thu mua được phân bố trên kế hoạch theo mặt hàng thu mua, theo ngành và theo địa phương, tương ứng với khối lượng nông, lâm, thuỷ sản phải mua.

Uỷ ban nhân dân huyện có trách nhiệm tổ chức và chỉ đạo việc ký kết hợp đồng giữa các tổ chức thu mua với người sản xuất, bảo đảm các bên ký kết thực hiện nghiêm chỉnh hợp đồng; bên nào vi phạm hợp đồng phải bồi thường thiệt hại và chịu phạt theo quyết định của trọng tài kinh tế.

Ra sức củng cố và phát triển mạng lưới thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán đến tận cơ sở. Cải tiến cơ chế quản lý đối với các cơ sở cung ứng vật tư, thương nghiệp, lương thực; xây dựng tốt đội ngũ cán bộ, nhân viên về phẩm chất và nghiệp vụ. Thương nghiệp xã hội chủ nghĩa phải thực hiện đúng phương thức kinh doanh xã hội chủ nghĩa, tích cực phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân. Cải tiến các chính sách, chế độ về thuế, tín dụng, chiết khấu... để phát triển mạnh hợp tác xã mua bán.

Sắp xếp lại hệ thống tổ chức cung ứng vật tư, vận tải, thương nghiệp; tập trung nhiệm vụ cung ứng các loại vật tư thông dụng vào Bộ Vật tư; xoá bỏ những cấp, những khâu trung gian không cần thiết, bảo đảm quá trình lưu thông vật tư, hàng hoá hợp lý theo con đường ngắn nhất từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng. Mở rộng hình thức “đại lý” và các hình thức quá độ khác có kiểm soát chặt chẽ trong thương nghiệp, vật tư và vận tải.

Đẩy mạnh việc xây dựng và tăng cường các công ty kinh doanh của huyện do cấp huyện quản lý. Công ty vật tư huyện làm chức năng cung ứng vật tư nông nghiệp và đại lý cung ứng các vật tư thông dụng khác trên địa bàn huyện. Công ty thương nghiệp huyện làm chức năng thu mua và bán lẻ trên địa bàn huyện, đồng thời làm đại lý thu mua và bán lẻ một số mặt hàng thuộc phạm vi kinh doanh của các ngành khác. ở các vùng sản xuất tập trung hàng xuất khẩu, công ty ngoại thương huyện làm nhiệm vụ trực tiếp thu mua nông sản xuất khẩu. Công ty lương thực huyện làm chức năng huy động và kinh doanh lương thực.

2- Về giá cả:

- Khẩn trương điều chỉnh hệ thống giá của Nhà nước một cách có kế hoạch vững chắc, làm cho giá cả ngày càng phản ánh đầy đủ hơn hao phí lao động xã hội cần thiết và phù hợp với sức mua của đồng tiền, góp phần giải quyết đúng đắn những mối quan hệ cơ bản, nhất là quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa tích luỹ và tiêu dùng, giữa trong nước và ngoài nước.

Trước mắt, cần thi hành chính sách hai loại giá một cách nhất quán: bên cạnh hệ thống giá ổn định (giá bán buôn trong kinh tế quốc doanh, giá cung cấp cho những người ăn lương, giá mua và bán theo hợp đồng hai chiều...), có bộ phận giá được chỉ đạo linh hoạt (giá thoả thuận trong thu mua, giá kinh doanh thương nghiệp trong bán lẻ) để đấu tranh với thị trường tự do, tăng cường nắm hàng, chủ động điều tiết cung- cầu.

Trên cơ sở phát triển sản xuất, tăng cường lực lượng hàng hoá trong tay Nhà nước, mở rộng thương nghiệp xã hội chủ nghĩa; xoá bỏ đầu cơ, buôn lậu; thu hẹp và quản lý chặt chẽ thị trường tự do, giảm dần và đi đến chấm dứt lạm phát không lành mạnh, căn bản cân đối được hàng – tiền và cung – cầu về những mặt hàng thiết yếu nhất, tiến tới thi hành chính sách một mức giá thống nhất.

- Tính đủ và đưa dần các chi phí cần thiết vào giá thành sản phẩm, trước hết là tiền lương, sau đó là khấu hao cơ bản và giá vật tư nhập khẩu. Các ngành, các cấp, các cơ sở có trách nhiệm hạch toán giá thành chân thực và chính xác, phấn đấu hạ giá thành và phí lưu thông, loại bỏ ngay những chi phí bất hợp lý, bất lợp lệ.

Điều chỉnh từng bước giá bán buôn vật tư đối với tư liệu sản xuất và dịch vụ kỹ thuật.

- Trên cơ sở xác định chi phí sản xuất hợp lý và lãi thoả đáng để khuyến khích sản xuất nông nghiệp, nhất là lương thực. Hàng xuất khẩu, cây công nghiệp quan trọng, mà xem xét, điều chỉnh giá thu mua trong hợp đồng hai chiều, bảo đảm tỷ giá hợp lý giữa nông, lâm, thuỷ sản và hàng công nghiệp. Giá thoả thuận áp dụng cho phần thu mua ngoài hợp đồng được chỉ đạo linh hoạt trong khung giá quy định theo vùng, theo thời vụ, theo tính chất quan trọng của mặt hàng, có tính đến tình hình giá cả thị trường, trên cơ sở loại bỏ các yếu tố đầu cơ và cấm tư thương tranh mua với Nhà nước.

Xác định lại giá gia công, giá thu mua hàng tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp, bảo đảm cho người sản xuất bù đắp được chi phí và có thu nhập thoả đáng.

- Xác định hệ thống giá bán lẻ mới của Nhà nước. Điều chỉnh giá cung cấp lên bằng mức giá bán lẻ mới ổn định của Nhà nước và đưa khoản chênh lệch giá đó vào tiền lương. Ngoài quỹ hàng cung cấp, quỹ hàng đối lưu theo hợp đồng hai chiều và một số mặt hàng thuộc diện chính sách xã hội (như thuốc chữa bệnh, sữa cho trẻ em, giấy viết cho học sinh...), quỹ hàng hoá bản lẻ còn lại của thương nghiệp quốc doanh được bán theo giá kinh doanh thương nghiệp; giá này được chỉ đạo linh hoạt để đấu tranh với thị trường tự do, góp phần điều tiết cung- cầu. Việc điều chỉnh và thi hành hệ thống giá bán lẻ phải gắn liền với việc củng cố tổ chức thương nghiệp và cải tiến phương thức hoạt động thương nghiệp, bảo đảm bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng, nghiêm cấm việc tuồn hàng của Nhà nước ra thị trường tự do, chống đầu cơ mua đi bán lại để thu chênh lệch giá.

- Việc điều chỉnh giá phải làm kiên quyết và thận trọng, đồng bộ với các biện pháp về tài chính, tiền tệ, tiền lương, thương nghiệp và quản lý thị trường, thể hiện trong các phương án liên ngành; phải lường hết các hệ quả và tác động về mặt kinh tế- xã hội để có kế hoạch chủ động đối phó. Nhà nước phải tăng cường quản lý giá, đồng thời thực hiện phân công, phân cấp quản lý giá hợp lý để bảo đảm giá cả được quyết định mau lẹ kịp thời, không ảnh hưởng đến sản xuất và lưu thông hàng hoá. Nghiêm cấm các ngành, các cấp định giá sai chế độ, tuỳ tiện nâng giá hoặc ép giá để tăng thu nhập bất hợp lệ. Đề cao kỷ luật và bí mật Nhà nước về giá; tăng cường kiểm tra, thanh tra Nhà nước và lập lại trật tự trên lĩnh vực giá cả.

3- Về tiền lương:

Bộ Chính trị khẩn trương xem xét và thông qua phương án toàn diện cải tiến một bước chế độ tiền lương, làm cho tiền lương thật sự bảo đảm tái sản xuất sức lao động của người ăn lương, bảo đảm quan hệ hợp lý giữa các ngành nghề và tính thống nhất của chế độ tiền lương trong cả nước, bảo đảm thực hiện phân phối theo lao động.

Trong một số năm trước mắt, tiền lương phải bao gồm hai phần: phần tiền lương ổn định được bảo đảm bằng chế độ cung cấp những mặt hàng thiết yếu theo giá ổn định, và phần tiền lương biến động được bảo đảm bằng phụ cấp đắt đỏ theo chỉ số giá sinh hoạt từng thời gian ở từng khu vực. Trên cơ sở đẩy mạnh sản xuất và tăng cường thu mua nắm nguồn hàng trong tay Nhà nước, dành riêng quỹ hàng hoá và tổ chức tốt việc cung cấp, bảo đảm phần tiền lương ổn định chiếm 70% tiền lương của công nhân, cán bộ.

Trong khi chuẩn bị cải tiến chế độ tiền lương, phải bảo đảm cung cấp cho công nhân, cán bộ và lực lượng vũ trang các mặt hàng thiết yếu theo đúng tiêu chuẩn, chất lượng và thời gian quy định; hạn chế bù tiền thay cung cấp hiện vật, nhất là đối với lương thực và thực phẩm. Đối với bộ phận công nhân viên chức hiện có mức thu nhập quá thấp, nhất là cán bộ nhân viên trong khu vực hành chính sự nghiệp và lực lượng vũ trang, Hội đồng Bộ trưởng cần áp dụng ngay các biện pháp tích cực và thích hợp về cung cấp hiện vật hoặc phụ cấp bằng tiền. Định lại các mức ăn ca ba và giữa ca, bồi dưỡng độc hại, bảo đảm tiêu chuẩn hiện vật theo quy định.

4- Về tài chính và tiền tệ:

- Khẩn trương xây dựng chính sách tài chính quốc gia phù hợp với chặng đường hiện nay của thời kỳ quá độ, bảo đảm các mối quan hệ cơ bản trong nền kinh tế quốc dân, nhất là giữa tích luỹ và tiêu dùng, giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội.

Phải thực hiện tăng thu và tiết kiệm chi một cách triệt để nhằm hạn chế bội chi và tiến tới cân bằng thu- chi ngân sách Nhà nước.

Thực hiện nghiêm chỉnh pháp lệnh về thuế nông nghiệp và thuế công thương nghiệp. Tiếp tục làm tốt việc phát hành công trái. Thể chế hoá phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm, trung ương và địa phương cùng làm” trong xây dựng và trong sự nghiệp giáo dục, văn hoá và y tế.

Phân bố và sử dụng hợp lý các nguồn vốn trong nước và ngoại tệ. Tập trung vốn đầu tư cơ bản cho các công trình trọng điểm, coi trọng đầu tư chiều sâu, sớm đưa các công trình vào sử dụng. Tổ chức thực hiện có kết quả rõ rệt các Nghị quyết của Đảng và Chính phủ về chế độ tiết kiệm trên cơ sở những tiêu chuẩn, định mức ràng buộc; hạn chế chi tiêu cho các nhu cầu về quản lý hành chính; kiên quyết chấm dứt tình trạng lãng phí, phô trương hình thức về hội họp, tiếp khách, liên hoan, quà biếu.

Tiếp tục hoàn thiện chế độ phân cấp quản lý tài chính và ngân sách. Thủ trưởng và kế toán trưởng xí nghiệp, cơ quan phải chịu trách nhiệm vật chất về mọi vi phạm các chính sách, chế độ tài chính.

- Nắm vững và điều hoà lưu thông tiền tệ, hạn chế lạm phát để củng cố sức mua của đồng tiền bằng những chính sách kinh tế- tài chính thích hợp và các biện pháp quản lý đồng bộ, kiên quyết. Trước mắt phải làm ngay những việc cấp bách: chỉ đạo chặt chẽ giá cả; cấm tuỳ tiện nâng giá thu mua để tranh mua nhất là mua hàng xuất khẩu; cấm tuỳ tiện nâng giá bán vật tư và hàng tiêu dùng để thu chênh lệch giá; quản lý chặt chẽ lao động và tiền lương, trả lương tương ứng với năng xuất, chất lượng và sản lượng; tiết kiệm chi tiêu mọi mặt, chống lãng phí, chi tiêu bừa bãi, nhất là chi tiêu bằng tiền mặt; quản lý chặt chẽ vốn xây dựng cơ bản; tất cả các ngành, các cấp phải nghiêm chỉnh chấp hành chế độ quản lý tài chính và tiền mặt, cấm lập quỹ đen và “toạ chi” ngoài chế độ.

Trên cơ sở tính toán chặt chẽ các khoản thu chi mà có kế hoạch phát hành tiền một cách chủ động cho đầu tư phát triển sản xuất có hiện quả sớm và cho thu mua nắm nguồn hàng.

- Thực hiện chính sách tín dụng tích cực: mở rộng phạm vi và cải tiến phương pháp tín dụng phù hợp với cơ chế quản lý mới. Điều chỉnh hợp lý lãi suất tiền gửi và tín dụng ngân hàng. Ngân hàng cần cải tiến phương thức hoạt động, xoá bỏ những thủ tục phiền hà để phục vụ nhanh nhạy các yêu cầu của sản xuất, kinh doanh; đồng thời tăng cường kiểm soát bằng đồng tiền, bảo đảm hiệu quả của vốn tín dụng. Việc thực hiện chế độ quản lý tiền mặt và chế độ tín dụng phải là một tiêu chuẩn để xét công nhận hoàn thành kế hoạch và trích lập các quỹ của xí nghiệp, công ty. Phân biệt rành mạch và thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước và chức năng kinh doanh của ngân hàng. Tiếp tục mở rộng mạng lưới ngân hàng cơ sở; phát triển và củng cố hợp tác xã tín dụng và các hình thức tín dụng khác ở nông thôn và thành thị.

- Sửa đổi chế độ quản lý ngoại hối, nhằm tập trung mọi nguồn vốn ngoại tệ vào quỹ ngoại hối của Nhà nước và tài khoản ngoại tệ ở ngân hàng ngoại thương. Nghiêm trị những hoạt động đầu cơ, kinh doanh mua bán và lưu hành trái phép ngoại tệ ở trong nước.

5- Về quản lý xuất, nhập khẩu:

Phát triển và cải tiến quan hệ kinh tế với nước ngoài, đặc biệt là với Liên Xô và với các nước khác trong Hội đồng tương trợ kinh tế, phù hợp với những văn kiện được thông qua ở Hội nghị cấp cao các nước thành viên Hội đồng tương trợ kinh tế ở Mát-xcơ-va.

ưu tiên bảo đảm các điều kiện sản xuất, vật tư kỹ thuật cần thiết, dành quỹ vật tư, hàng hoá thích đáng, trong đó có phần vật tư, hàng hoá nhập khẩu, để phục vụ sản xuất và thu mua hàng xuất khẩu theo kế hoạch Nhà nước. Đẩy mạnh xuất khẩu tại chỗ bằng cách phát triển du lịch, dịch vụ hàng không, cung ứng tàu biển v.v...

Trên cơ sở thực hiện nguyên tắc Nhà nước độc quyền ngoại thương và ngoại hối, trung ương thống nhất quản lý ngoại thương, thống nhất quản lý vận tải xuất, nhập khẩu; khuyến khích các địa phương, các ngành và các đơn vị cơ sở đẩy mạnh sản xuất hàng xuất khẩu và nhập khẩu. Mọi hoạt động xuất, nhập khẩu, dù là của trung ương hay của địa phương, của các đơn vị cơ sở, đều phải chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Ngoại thương.

- Kế hoạch sản xuất và giao nộp hàng xuất khẩu được Nhà nước giao thành chỉ tiêu pháp lệnh cho các ngành, các địa phương và các đơn vị cơ sở; phần vượt chỉ tiêu pháp lệnh, các ngành, các địa phương, và các đơn vị cơ sở được đưa vào kế hoạch xuất khẩu của mình. Cho phép các ngành, các địa phương và các đơn vị cơ sở lập quỹ ngoại tệ, vay vốn ngoại tệ để đầu tư chiều sâu và mở rộng sản xuất, nhập vật tư phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu và hàng tiêu dùng thiết yếu, trên cơ sở bảo đảm hiệu quả kinh tế cao và khả năng trả nợ đúng hạn. Các ngành, các địa phương và các đơn vị cơ sở sử dụng vốn ngoại tệ thu được chủ yếu để nhập những thiết bị lẻ, vật tư, nguyên liệu phục vụ sản xuất; trong trường hợp cần thiết được phép nhập một tỷ lệ nhất định hàng tiêu dùng thiết yếu mà trong nước không có khả năng sản xuất; không được nhập hàng xa xỉ.

Cải tiến chế độ thu bù chênh lệch ngoại thương, nghiên cứu áp dụng thuế nhập khẩu và trợ giá hàng xuất; giải quyết thoả đáng tỷ giá kết hối đối với phần ngoại tệ địa phương trích nộp cho trung ương.

- Sắp xếp lại và tăng cường các tổ chức kinh doanh xuất- nhập khẩu có tính chất toàn quốc, cũng như của các ngành và các địa phương. Thống nhất kinh doanh xuất- nhập khẩu những mặt hàng hoặc nhóm hàng quan trọng trong cả nước vào một đầu mối thông qua các tổ chức xuất- nhập khẩu có tính chất liên doanh, liên kết giữa trung ương và địa phương và giữa các địa phương với nhau.

IV- CẢI TIẾN QUẢN LÝ Ở CÁC NGÀNH, CÁC CẤP NHẰM TĂNG CƯỜNG PHỤC VỤ VÀ QUẢN LÝ CƠ SỞ

1- Cải tiến công tác kế hoạch hoá.

Hội đồng Bộ trưởng phải khẩn trương làm tốt việc cụ thể hoá đường lối thành chiến lược kinh tế- xã hội trình Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương xem xét và quyết định; xây dựng những chương trình mục tiêu trọng yếu; quyết định những phương án kinh tế- kỹ thuật quan trọng; chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch, tổng hợp và cân đối kế hoạch của các ngành, các địa phương; xây dựng và nắm vững những cân đối chủ yếu về hiện vật và giá trị nhằm bảo đảm cho trung ương thông qua kế hoạch mà chi phối vững chắc quá trình phát triển kinh tế- xã hội của cả nước.

Các thành tựu khoa học và tiến bộ kỹ thuật phải là cơ sở để xây dựng kế hoạch và thực sự trở thành một nội dung chủ yếu của kế hoạch, kế hoạch khoa học- kỹ thuật phải trở thành bộ phận hữu cơ của kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội.

Các bộ, tổng cục có trách nhiệm xây dựng kế hoạch toàn ngành phù hợp với trình độ phát triển và đặc điểm của từng ngành; bảo đảm cho kế hoạch được thực sự xây dựng và tổng hợp từ cơ sở do bộ trực tiếp quản lý cũng như từ các cơ sở cùng ngành do các địa phương và các bộ khác trực tiếp quản lý. Kế hoạch ngành phải đặc biệt xem trọng các mặt: đầu tư xây dựng cơ bản để hình thành ngành trong phạm vi cả nước; áp dụng tiến bộ khoa học- kỹ thuật và những định mức kinh tế- kỹ thuật tiến bộ; cung ứng những vật tư chủ yếu và phân phối những sản phẩm chủ yếu thuộc danh mục do trung ương thống nhất quản lý; sản xuất hàng xuất khẩu...

Mở rộng quyền hạn và trách nhiệm của tỉnh, thành phố trong việc xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch kinh tế- xã hội toàn diện của địa phương gồm cả phần kế hoạch do địa phương phụ trách đối với các cơ sở trung ương đóng tại địa phương; tạo điều kiện cho các tỉnh, thành phố tự giải quyết đến mức cao nhất việc xây dựng cơ cấu kinh tế địa phương, phát huy tiềm năng lao động, đất đai, mở mang ngành nghề, cung ứng cho đời sống dân cư trong địa phương và cân đối được về mặt giá trị giữa các sản phẩm do địa phương điều động cho trung ương và các vật tư, hàng hoá của trung ương đưa về địa phương. Xúc tiến việc xây dựng kế hoạch lãnh thổ phù hợp với trình độ phát triển kinh tế của các vùng và trình độ quản lý của các ngành và của địa phương.

Kế hoạch tỉnh phải thể hiện cơ cấu kinh tế công- nông nghiệp tỉnh, bao gồm cả các cơ sở kinh tế trung ương và kinh tế địa phương, gồm những cơ sở kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, trạm trại có tác dụng đối với cả tỉnh hoặc nhiều huyện.

Kế hoạch huyện phải thể hiện cơ cấu kinh tế nông- công nghiệp huyện được xây dựng theo quy hoạch cụ thể của từng huyện (nông- công nghiệp, nông- lâm-công nghiệp, nông- ngư- công nghiệp v.v ...) gồm những cơ sở công nghiệp quốc doanh, nông trường, lâm trường, trạm trại trực tiếp phục vụ cho sản xuất trong huyện, nằm gọn trên địa bàn huyện, các hợp tác xã nông nghiệp, tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp, xây dựng, vận tải v.v...

Kế hoạch của các ngành, các địa phương phải thể hiện phương châm “Trung ương và địa phương cùng làm”, “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, và các hoạt động liên doanh, liên kết giữa các địa phương với nhau hoặc giữa các địa phương với các ngành trung ương.

Hội đồng Bộ trưởng phải cải tiến phương pháp kế hoạch hoá, thể hiện phương châm và chủ trương kế hoạch hoá của Đảng phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước.

2- Ban hành, bổ sung hoặc sửa đổi một số chính sách, chế độ quản lý.

Ban hành pháp lệnh về chế độ kế toán và thống kê Nhà nước áp dụng bắt buộc cho tất cả các đơn vị thuộc các thành phần kinh tế tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh, chú trọng các chỉ tiêu về năng xuất, chất lượng, hiệu quả. Thực hiện nghiêm ngặt chế độ kỷ luật và trách nhiệm, tăng cường kiểm tra và thanh tra tài chính của Nhà nước, song phải đơn giản về thủ tục, tránh gây trở ngại đến hoạt động bình thường của cơ sở trong sản xuất, kinh doanh. Nâng cao trình độ tổng kết và phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của các xí nghiệp, liên hiệp các xí nghiệp và các địa phương.

Cải tiến các chính sách, chế độ về lao động theo hướng xoá bỏ cơ chế bao cấp, thực hiện phân bố lại lực lượng lao động, gắn nghĩa vụ với lợi ích của xí nghiệp và của người lao động. Ban hành và thực hiện tốt pháp lệnh về lao động nghĩa vụ của thanh niên và nghĩa vụ lao động công ích của công dân.

Tiếp tục hoàn thiện các chính sách, chế độ quản lý khoa học- kỹ thuật, chế độ kế hoạch hoá khoa học- kỹ thuật; bổ sung chính sách khuyến khích về vật chất và tinh thần đối với những thành tựu khoa học- kỹ thuật, sáng chế, phát minh, cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm vật tư, nguyên liệu. Đẩy mạnh công tác tiêu chuẩn hoá, kiểm tra chất lượng sản phẩm của Nhà nước.

3- Từ nay đến cuối năm 1985, phải hoàn thành về cơ bản việc tinh giản bộ máy quản lý Nhà nước đang quá cồng kềnh, có nhiều đầu mối và tầng nấc trung gian. Thu gọn một số bộ, tổng cục; tinh giản bộ máy của Đảng và các đoàn thể quần chúng các cấp; điều chỉnh những chỗ chưa hợp lý trong sự phân công giữa các bộ; nâng cao chất lượng hoạt động của các bộ và cơ quan chức năng; phân rõ trách nhiệm giữa các cơ quan liên quan. Khắc phục tình trạng chậm trễ, chồng chéo, thiếu đồng bộ trong quan hệ công tác với cấp dưới.

Tiếp tục cụ thể hoá và thể chế hoá chủ trương “Đảng lãnh đạo, nhân dân lao động làm chủ, Nhà nước quản lý”. Tăng cường pháp chế Nhà nước xã hội chủ nghĩa và kỷ luật Nhà nước. Tiến hành các biện pháp đồng bộ để chống quan liêu, lạm dụng chức quyền, tham nhũng; thực hiện thưởng phạt nghiêm minh, kịp thời trên tinh thần cấp trên làm gương cho cấp dưới, trong Đảng làm gương cho người ngoài Đảng.

Cải tiến và nâng cao hiệu lực chỉ đạo và tổ chức điều hành của Hội đồng Bộ trưởng, tăng cường sự chỉ đạo, kiểm tra đôn đốc của Ban Bí thư, bảo đảm thực hiện kịp thời và nghiêm túc các nghị quyết của Trung ương Đảng.

Thực hiện chế độ thủ trưởng trong các cơ quan quản lý Nhà nước và cơ quan quản lý sản xuất, kinh doanh theo hướng xác định rõ trách nhiệm cá nhân trong quản lý kinh tế, đồng thời xây dựng và thực hiện chế độ làm việc tập thể đối với các vấn đề quan trọng của cơ quan và đơn vị; củng cố Hội đồng bộ ở các bộ và cơ quan ngang bộ; lập Hội đồng xí nghiệp bên cạnh giám đốc xí nghiệp.

4-Về công tác cán bộ:

Quy định rõ quy trình, và có tổ chức bảo đảm tuyển chọn cán bộ một cách có căn cứ khoa học, đánh giá cán bộ một cách đúng đắn, căn cứ vào phẩm chất, đạo đức và năng lực thực hiện cơ chế quản lý mới. Trên cơ sở đó, sắp xếp, tăng cường đội ngũ cán bộ quản lý chủ chốt ở các cấp, các ngành kinh tế, trong các cơ quan quản lý Nhà nước, nhất là ở huyện và ở các tổ chức sản xuất, kinh doanh; khuyến khích và sử dụng đúng cán bộ tốt và giỏi, kiên quyết thay thế những cán bộ không đảm đương được nhiệm vụ được giao.

Lựa chọn và cử những cán bộ có phẩm chất, đạo đức, có năng lực quản lý và kinh doanh, làm giám đốc xí nghiệp và công ty quan trọng; làm bí thư và chủ tịch huyện.

Nâng cao chất lượng bồi dưỡng cán bộ về quản lý Nhà nước và quản lý kinh tế. Các trường đại học và trung học chuyên nghiệp đào tạo cán bộ kinh tế, kỹ thuật phải đưa nội dung quản lý kinh tế vào chương trình giảng dạy, chú ý tuyển chọn những cán bộ và người lao động tiên tiến ở cơ sở.

*

*       *

Để bảo đảm thực hiện tốt Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Hội đồng Bộ trưởng phải có chương trình cụ thể, tổ chức thực hiện nghị quyết, nhằm vào những điểm chủ yếu dưới đây:

- Làm thấu suốt nghị quyết này trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, đạt được sự nhất trí cao, bảo đảm sự thống nhất về tư tưởng và hành động trong toàn Đảng, trong tất cả các ngành, các cấp cho đến cơ sở, trước hết trong các cơ quan lãnh đạo;

- Khẩn trương cụ thể hoá các chủ trương, biện pháp đã ghi trong nghị quyết thành các chỉ thị của Đảng, các quyết định của Nhà nước, các kế hoạch, phương án, chương trình, mục tiêu có biện pháp đồng bộ.

- Cải tiến lề lối làm việc, thực hiện đúng các quy trình về chuẩn bị và ra quyết định; sử dụng và phát huy các cơ quan chuyên môn của Đảng và của Nhà nước trong việc nghiên cứu, chuẩn bị các chủ trương, chính sách và trong việc tổ chức thực hiện; phân công, phân nhiệm rõ ràng cho từng tổ chức và cá nhân, định rõ thời hạn hoàn thành từng việc; chỉ đạo trọng điểm và làm thử việc thực hiện những chủ trương quan trọng; tăng cường giáo dục, nâng cao phẩm chất, đạo đức và năng lực hoạt động của cán bộ, đảng viên; chú trọng kiểm tra, thanh tra việc thực hiện nghị quyết, kịp thời sơ kết, tổng kết, khen thưởng và thi hành kỷ luật, nhằm khuyến khích và phổ biến các kinh nghiệm tốt, việc làm tốt và ngăn ngừa những khuyết điểm, lệch lạc. Thực hiện nghiêm túc chế độ kiểm điểm kết quả thi hành các nghị quyết của Ban Chấp Hành Trung ương.

- Động viên phong trào cách mạng của quần chúng, đẩy mạnh phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm, tích cực bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, kiên quyết chống các hoạt động phá hoại của địch và các mặt tiêu cực trong xã hội. Tạo điều kiện thuận lợi để các đoàn thể theo chức năng của mình mà động viên, giáo dục, tổ chức quần chúng tham gia thiết thực vào công tác quản lý ở các cấp, các ngành, nhất là ở cơ sở.

Toàn Đảng, toàn dân ta, phát huy ý chí tự lực tự cường và tinh thần làm chủ tập thể của nhân dân lao động, hãy ra sức khắc phục những khuyết điểm trong công tác quản lý kinh tế, quyết tâm phấn đấu thực hiện tốt Nghị quyết của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, thi đua đẩy mạnh sản xuất và cải tiến công tác phân phối, lưu thông, thực hiện thắng lợi kế hoạch Nhà nước năm 1984, chuẩn bị tốt kế hoạch Nhà nước năm 1985, quyết tâm hoàn thành kế hoạch 5 năm 1981-1985, thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế- xã hội mà Đại hội toàn quốc lần thứ V của Đảng đã đề ra.


T/M BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
Tổng Bí thư

Lê Duẩn 

 

----------------------------
Nguồn: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tập 45, tr 274-308.

Các từ khóa theo tin:

In trang | Gửi góp ý


Các tin trước
Nghị quyết số 30b Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương (khoá V) về việc triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (26/11/2015)
Nghị quyết số 30 Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa V) về phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch kinh tế, xã hội năm 1986 (26/11/2015)
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa V) về giá - lương - tiền (26/11/2015)
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa V) về công tác xây dựng huyện tăng cường cấp huyện (26/11/2015)
 Trang 1 / 1 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin tiếp
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá V) về phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch KTXH năm 1984 và mức phấn đấu năm 1985 (26/11/2015)
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá V) về những vấn đề cấp bách về tư tưởng và tổ chức bảo đảm thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ KTXH trước mắt (26/11/2015)
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá V) về phương hướng, nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 1983 và mức phấn đấu đến năm 1985 (26/11/2015)
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (năm 1982) (13/10/2015)
Niên biểu toàn khoá (13/10/2015)
Danh sách Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá V (13/10/2015)
Diễn văn bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng do đồng chí Lê Duẩn, Tổng Bí thư BCHTW trình bày, ngày 31/3/1982 (13/10/2015)
Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng về "Báo cáo về xây dựng Đảng" và những đề nghị cụ thể về bổ sung Điều lệ Đảng của BCHTW Đảng, ngày 31/3/1982 (13/10/2015)
Nghị quyết của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng về Báo cáo "Phương hướng, nhiệm vụ và những mục tiêu chủ yếu về KT-XH trong 5 năm (1981 - 1985) và những năm 80" ngày 31/3/1982 (13/10/2015)
Nghị quyết của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V Đảng Cộng sản Việt Nam về Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng ngày 31/3/1982 (13/10/2015)
 Trang 1 / 2 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
TƯ LIỆU VĂN KIỆN
      - DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XII
      - DANH SÁCH BỘ CHÍNH TRỊ KHÓA XII
      - DANH SÁCH BAN BÍ THƯ KHÓA XII
      - TỔNG BÍ THƯ QUA CÁC THỜI KỲ
      - BỘ CHÍNH TRỊ, BAN BÍ THƯ, BCH TW
      - CÁC ĐẢNG BỘ TRỰC THUỘC TW
 
VIDEO
Đổi mới công tác đánh giá cán bộ theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng
AUDIO
Báo chí quốc tế tiếp tục đưa tin về chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Hoa Kỳ
Tổng thống Barack Obama và Chủ tịch Quốc hội thăm nhà sàn Bác Hồ
Truyền thông quốc tế đưa tin về việc Hoa Kỳ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí với Việt Nam
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tiếp Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama
Ảnh thời sự
Trưng bày các phương tiện phòng cháy, chữa cháy hiện đại nhất
Liên hoan phim quốc tế Hà Nội lần thứ IV
“Đêm hội trăng rằm - Đưa Trung thu về với biển đảo”
Bảo tồn di tích Những địa điểm Khởi nghĩa Yên Thế
Công bố Quyết định thành lập Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2016-2021
Từ Đại hội đến Đại hội
 Đại hội II
 Đại hội III
 Đại hội IV
 Đại hội V
 Đại hội VI
 Đại hội VII
 Đại hội VIII
 Đại hội IX
 Đại hội X
 Đại hội XI
 Đại hội XII
 
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : dangcongsan@cpv.org.vn
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet