Hôm nay, ngày 25 tháng 6 năm 2017 Trang chủ  Báo điện tử ĐCSVN  Giới thiệu  Sitemap  Liên hệ  English  Français   
 
Nghị quyết của Ban Trung ương Đảng, ngày 6,7,8 tháng 11 năm 1939
09:26 | 06/10/2015

 I

TÌNH HÌNH THẾ GIỚI

1. Đế quốc chiến tranh lần thứ hai đã lan khắp thế giới và bước vào một giai đoạn khác

Từ ngày phát xít Nhật bắn phát súng đầu tiên ở miền Đông Bắc Trung Quốc (18-9-1931) để mở màn cho cuộc đế quốc chiến tranh lần thứ hai thì một số các nước hèn yếu kế tiếp bị xâm lược: năm 1935

Từ ngày phát xít Nhật bắn phát súng đầu tiên ở miền Đông Bắc Trung Quốc (18-9-1931) để mở màn cho cuộc đế quốc chiến tranh lần thứ hai thì một số các nước hèn yếu kế tiếp bị xâm lược: năm 1935 Ý đánh Á1), 1936 Đức - Ý đánh Tây Ban Nha, 1937 Nhật lại đánh Trung Quốc, 1938 Đức nuốt Áo, 1939 lại nuốt luôn Tiệp và tháng 4 năm ấy Ý tiêu diệt Anbani. Cuộc chiến tranh cứ liên miên hoài cho tới ngày Đức đánh Ba Lan và Pháp - Anh tuyên chiến với Đức (đầu tháng 9-1939) thì nó đã lan rộng khắp thế giới và bước qua một giai đoạn khác.

2. Mục đích và tính chất đế quốc chiến tranh

Trong thời kỳ đế quốc vì sự phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản, các đế quốc thiếu nguyên liệu, thiếu thị trường phải đánh nhau để chia lại thế giới. Cuộc thế giới đế quốc chiến tranh năm 1914 - 1918 vì thế mà phát sinh. Thế giới đế quốc chiến tranh lần thứ hai này cũng chỉ vì mục đích đó. Ấy thế mà báo chương phản động thổi kèn gióng trống, nói chiến tranh vì "công lý", vì "tự do", vì "văn minh", vì "nhân đạo", vì "đánh đổ chủ nghĩa quốc xã", vì "giúp Ba Lan". Thật ra đế quốc chiến tranh chẳng có chút gì cao thượng hết. Khác hẳn với cách mệnh chiến tranh là một thứ chiến tranh hợp công lý, đế quốc chiến tranh chỉ là một thứ chiến tranh cướp bóc, tối phản động, trái với công lý. "Hai nước Anh - Pháp kéo lá cờ "dân chủ" để che đậy những quyền lợi vật chất của mình". Câu nói ấy của của Môlôtốp (Molotov) trong bài diễn văn đọc tại Hội nghị Xôviết tối cao thật đã soi tận tim đen của tụi đế quốc.

3. Những giai đoạn trong cuộc đế quốc chiến tranh lần thứ hai

Thế giới đế quốc chiến tranh thứ hai từ lúc khởi sự tới nay có thể chia làm hai giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất: Bắt đầu từ lúc phát xít Nhật chiếm miền Đông Bắc Trung Quốc tới lúc cuộc thương thuyết Anh - Pháp - Xô bị tan vỡ. Trong giai đoạn này mấy nước đế quốc Đức - Ý - Nhật vì trong cuộc đế quốc chiến tranh lần đầu cướp bóc được ít hoặc bị giật mất phần nên phải đi cướp bóc lần nữa để giải quyết cuộc kinh tế khủng hoảng từ năm 1930 đang dây dưa trong nước. Trong lúc trục phát xít Đức - Ý - Nhật hung hăng cướp mấy nước yếu, trong lúc những nước bị xâm lược hăng hái chống lại để giữ độc lập, tự do thì mấy đế quốc khác như Anh - Pháp - Mỹ, mặc dầu quyền lợi mình cũng bị xâm phạm và đe doạ, vẫn cứ ngồi trương mắt ếch chờ đôi bên đánh nhau liệt nhược để nhảy ra vồ lấy cái lợi ngư ông. Đế quốc chiến tranh trong giai đoạn này chỉ mới có ba đế quốc Đức - Ý - Nhật dự vào, còn các đế quốc khác vẫn đứng ngoài, nó chỉ mới có tính chất phiến diện một bên (Unilatéral) đó là đặc điểm của giai đoạn thứ nhất. Lúc bấy giờ trục phát xít một mặt công nhiên đòi thuộc địa hoặc xâm phạm và đe doạ quyền lợi kinh tế cùng vị trí của mấy đế quốc khác như Anh - Pháp, một mặt âm mưu thôi thúc phong trào phát xít trong mấy nước này để quét sạch những dấu vết tự do dân chủ. Chính phủ Anh - Pháp, lúc bấy giờ, trước sự hăm doạ và vì quyền lợi ích kỷ của chúng nó, nên cũng có đôi chút ý muốn chống chiến tranh. Sau cuộc Muních, dư luận thế giới và dân chúng Anh - Pháp rất căm tức chính sách đầu hàng của Sămbéclanh và Đalađiê, nên trong giai đoạn này còn có thể mong kéo hai Chính phủ tư sản Anh - Pháp vào một mặt trận với Liên Xô, với phong trào dân chúng bị áp bức ở các nước tư bản và ở các xứ thuộc địa, để chặn đường trục phát xít xâm lược, giữ hoà bình cho thế giới. Song bọn đầu hàng Muních vì quá sợ phong trào cách mạng thế giới, vì quá sợ Liên Xô cột trụ của mặt trận chống xâm lược, nên đã đi ngược hẳn ý muốn của dân chúng trong nước, bỏ hẳn cái ý muốn yếu ớt của chúng là chống chính sách xâm lược và xoay qua cố ý phá cuộc thương thuyết với Liên Xô, để cùng Chính phủ tư sản phản động Ba Lan, con chó săn trung thành của chúng gây ra cuộc chiến tranh cướp bóc.

Giai đoạn thứ hai: Bắt đầu từ ngày chiến tranh đế quốc nổ bùng ra giữa Anh - Pháp - Ba2) với Đức. Trong giai đoạn thứ hai khác với giai đoạn trước, tất cả các đế quốc trên thế giới đã trực tiếp (Anh, Pháp, Đức) hoặc gián tiếp (Mỹ, Ý) dự vào đế quốc chiến tranh. Cuộc đế quốc chiến tranh đã từ phiến diện hoá ra toàn diện (Bilatéral) đó là đặc điểm của giai đoạn này. Chính phủ tư sản các đế quốc tự xưng là dân chủ như Anh - Pháp, trên quốc tế đã phá hoại chính sách hoà bình của Liên Xô để phát động cuộc đế quốc chiến tranh, ở trong nước đã huỷ bỏ hết thảy những dấu vết tự do dân chủ, chúng nó đã phát xít hoá và chạy hẳn qua phe vị quốc phản động rồi. Bởi vậy, mặt trận chống phát xít, chống chiến tranh toàn thế giới ngày nay đã vắng mặt chúng nó và chỉ gồm có phong trào giải phóng nhân dân các nước đế quốc tư bản và phong trào giải phóng dân tộc các thuộc địa và bán thuộc địa đoàn kết chung quanh Liên bang Xôviết.

4. Cuộc đế quốc chiến tranh liên miên, to tát, dữ dội

Thế giới đế quốc chiến tranh lần này tiến hành theo một khuôn khổ to tát. Từ Đông qua Tây nó đã lôi cuốn tất cả trên ngàn triệu người kể cả Trung Quốc, Nhật, Đức, Anh, Pháp, Ba cùng các thuộc địa. Nó là trận tàn phá không tiền khoáng hậu và sẽ liên miên hoài, chưa biết ngày giờ nào hết. Rồi đây hai đế quốc Mỹ - Ý sẽ xô lùa dân chúng vào cuộc chém giết, đế quốc Nhật sẽ mở rộng cuộc chiến tranh ở Viễn Đông. Rồi đây vì những chiến sự mới, vì vi trùng hơi ngạt; hàng ức, hàng triệu mạng người sẽ biến thành núi xương, biển máu, hằng hà sa số của cải, nhà cửa sẽ hoá ra tro tàn! Cái thảm trạng con khóc cha, anh khóc em, vợ khóc chồng, người mất, nhà tan, đói rét, khổ sở sẽ không thể nào tưởng tượng nổi! Thế giới sẽ là cái lò sát sinh lớn! Nhân loại sẽ phải chịu một số kiếp vô cùng thê thảm.

5. Liên bang Xôviết với đế quốc chiến tranh

Vì chiến tranh đế quốc là tai vạ lớn cho loài người, nên luôn luôn Liên Xô đeo đuổi chính sách hoà bình. Song sự an toàn chung do Liên Xô chủ trương luôn luôn bị tên đại bợm Sămbéclanh phá hoại. Ở Hội nghị Muních nó đã hy sinh Tiệp để phá Hiệp ước tương trợ Xô - Tiệp và xúi Hítle xoay bộ máy quốc xã về phương Đông. Trong cuộc thương thuyết Anh, Pháp, Xô, Sămbéclanh và Đalađiê một hai không chịu bảo đảm cho mấy nước trên bờ biển Ban Tích, toan chừa chỗ trống cho Hítle dễ bề đánh Liên Xô. Trong lúc ấy Hítle biết Liên Xô mạnh mẽ không thể xâm phạm nổi cam đoan không động chạm tới bờ cõi Liên Xô, bởi vậy một bản hiệp ước bất xâm phạm đã ký giữa hai nước Xô - Đức. Mục đích Hiệp ước này không phải gây ra đế quốc chiến tranh như lời phao vu của dư luận phản động, mà trái lại cốt chia rẽ lực lượng bọn đế quốc và không những tránh cho 180 triệu dân Liên Xô, mà tránh cho hàng ngàn triệu công nông trên thế giới khỏi bị lôi cuốn vào cuộc chiến tranh cướp bóc thảm khốc lần thứ hai do đế quốc Anh - Pháp - Đức gây ra. Tụi phản động lại vin vào việc Hồng quân kéo qua mấy tỉnh phía Đông Ba Lan, cho rằng Liên Xô đồng loã với Đức để chia xẻ nước láng giềng. Chúng không hiểu hay không muốn hiểu rằng trong lúc hơn một triệu quân áo nâu3) rầm rộ kéo qua Ba Lan, nếu Liên Xô không chiếm ngay lấy mấy tỉnh ấy thì sự an toàn của mình sẽ không khỏi bị doạ nạt và sẽ thêm hàng chục triệu dân thiểu số Nga ở Ba Lan bị bọn quốc xã chém giết dầy bừa. Chúng không phân biệt hay không muốn phân biệt sự dùng võ lực can thiệp vào xứ khác để giết người, cướp của như Đức chiếm Áo và Tiệp; Ý chiếm Á và Anbani; Nhật chiếm Trung Quốc, Cao Ly, Đài Loan; Anh chiếm Nam Phi châu, Ấn Độ, Diến Điện; Pháp chiếm Marốc, Đông Dương, v.v. với sự Liên Xô can thiệp vào Uycơren để cởi ách nô lệ cho dân xứ ấy. Chứng cớ: sau khi Hồng quân kéo qua xứ Nga trắng (Russie Blanche) và Uycơren (dân ở hai xứ này là dân thiểu số Nga) Liên Xô đã lập ngay chế độ Xôviết, quốc hữu hoá các sản nghiệp lớn giao cho thợ quản lý và chia ruộng đất cho dân cày. Trái hẳn thái độ giả dối của các đế quốc Mỹ - Ý, miệng nói trung lập mà thật ra bán khí giới cho các nước giao chiến và đang mưu mô cơ hội nhảy xổ vào chiến tranh. Liên Xô luôn luôn gắng sức làm cho phạm vi chiến tranh khỏi lan rộng ra.

Việc ký hiệp ước tương trợ với các nước trên bờ biển Ban Tích, cuộc thương thuyết với Thổ đều nhằm vào mục đích ấy. Tóm lại dù ngày nay tình hình thế giới biến đổi, Liên Xô vẫn cứ thuỷ chung với cái chính sách hoà bình và ủng hộ cách mệnh thế giới đã đeo đuổi từ trên 20 năm nay.

6. Cuộc âm mưu đánh Liên Xô

Giữa lúc ấy các đế quốc Anh - Pháp từng giờ, từng phút lo tìm hết cách xoay cuộc đế quốc chiến tranh ra cuộc tiến công Liên Xô để đạp bằng thành trì cách mệnh thế giới. Hiện nay kinh tế thế giới đã vạch ra hai hệ thống: Hệ thống tư bản chủ nghĩa và hệ thống xã hội chủ nghĩa. Hệ thống xã hội còn thì hệ thống tư bản chết, Liên Xô đối với liệt cường đế quốc là kẻ không đội trời chung. Từ trên 20 năm nay chúng nó đã dùng biết bao thủ đoạn, khi vũ trang can thiệp, khi phong toả kinh tế, khi thông đồng với bọn phản cách mạng tờrốtkít, hao tổn biết bao lực lượng cả vật chất lẫn tinh thần mong tiêu diệt Tổ quốc vô sản thế giới, nhưng tất cả đều vô công hiệu. Ngay sau Đức chiếm Ba rồi, hai đế quốc Anh, Pháp vẫn mưu hoà với Hítle toan quay mũi súng của hơn một triệu quân quốc xã về phía Liên bang Xôviết, song việc Hồng quân tiến lên lập Xôviết mấy tỉnh miền Đông Ba Lan đã đập tan cái mưu hiểm độc ấy. Tuy vậy chúng có ngã lòng đâu. Có đế quốc Mỹ - Ý - Nhật phụ hoạ vào, Sămbéclanh và Đalađiê đang dùng trăm phương nghìn kế xoay cuộc đế quốc4) giữa Anh - Pháp - Đức, thành cuộc chiến tranh phản cách mệnh giữa các đế quốc cùng Liên Xô. Chúng mong rằng nếu thành trì cách mệnh thế giới bị đạp bằng, hệ thống xã hội chủ nghĩa bị đánh đổ thì nhân dân bị áp bức ở các nước tư bản hết hy vọng giải phóng, dân tộc bị áp bức các thuộc địa hết mong độc lập tự do. Bởi vậy Liên Xô đương hết sức củng cố, phòng thủ ở Tây cũng như ở mặt Đông. Bởi vậy, phong trào nhân dân giải phóng ở các nước tư bản và phong trào dân tộc giải phóng ở các thuộc địa trong giờ nghiêm trọng này cần phải cùng Liên Xô kết chặt thành mặt trận chống đế quốc chiến tranh, chống đế quốc chủ nghĩa toàn thế giới, thành mặt trận cách mệnh giải phóng toàn thế giới.

7. Tiền đồ cách mệnh

Trận tổng khủng hoảng to tát dữ dội còn dây dưa, cuộc khủng hoảng mới lại dồn dập kéo tới. Trật tự cũ lại lay chuyển tận gốc. Chế độ tư bản đang hấp hối chết thì cuộc đế quốc chiến tranh lần thứ hai lại tiếp đến đẩy nó chóng vào chỗ diệt vong. Ở các nước đế quốc tư bản nhất là ở các nước đang đánh nhau, hết thảy dân chúng bị áp bức sẽ thừa cơ nổi dậy bẻ cái xiềng nô lệ kéo dài đã hàng mấy chục thế kỷ. Ở các nước thuộc địa hết thảy dân tộc bị áp bức sẽ vùng dậy tranh đấu liều sống liều chết đế quốc xâm lược để cởi vất cái ách tôi đòi. Dân các nước tư bản đòi giải phóng. Dân tộc các thuộc địa đòi độc lập. Liên bang Xôviết luôn luôn ở bên cạnh để kích thích họ, giúp đỡ họ, Liên bang Xôviết, con đẻ của cuộc Cách mạng Tháng Mười, thành trì cách mạng thế giới mà ảnh hưởng ngày càng lan rộng, địa vị ngày càng vững vàng, sự thành công trong cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ngày càng rõ rệt, không có sức gì có thể xâm phạm tới được. Gương kháng chiến của Trung Quốc luôn luôn ở đó để thúc giục họ. Cuộc kháng chiến oanh liệt của 450 triệu người hy sinh quyết chiến để tranh lấy tự do, độc lập cho nước nhà khiến phát xít lùn, tên lính cảnh sát của liệt cường ở phương Đông ngày càng khốn đốn. Cách mệnh Trung Quốc sẽ thắng! Cách mệnh giải phóng dân tộc Đông Dương sẽ thắng! Cách mạng thế giới thế nào cũng sẽ thắng! Một thế giới quang minh rực rỡ sẽ thay cho cái thế giới tối tăm mục nát này.

II

TÌNH HÌNH ĐÔNG DƯƠNG

1. Vị trí Đông Dương trong cuộc đế quốc chiến tranh

Thuộc địa đông người nhiều của nhất của đế quốc Pháp là một nước thủ phạm trong cuộc đế quốc chiến tranh. Đông Dương lần này cũng như hồi đế quốc chiến tranh lần đầu đã bị lôi cuốn vào một cuộc đại thảm sát xưa nay chưa từng thấy. Đồng thời Đông Dương lại bị phát xít Nhật dòm ngó. Mặc dù đế quốc Pháp đã lì lẫm nối gót Anh mà đầu hàng Nhật song việc chiếm giữ đảo Hải Nam và Spralây vẫn còn đó, chủ nghĩa Đại

Thuộc địa đông người nhiều của nhất của đế quốc Pháp là một nước thủ phạm trong cuộc đế quốc chiến tranh. Đông Dương lần này cũng như hồi đế quốc chiến tranh lần đầu đã bị lôi cuốn vào một cuộc đại thảm sát xưa nay chưa từng thấy. Đồng thời Đông Dương lại bị phát xít Nhật dòm ngó. Mặc dù đế quốc Pháp đã lì lẫm nối gót Anh mà đầu hàng Nhật song việc chiếm giữ đảo Hải Nam và Spralây vẫn còn đó, chủ nghĩa Đại Á, Tế Á vẫn còn đó thì sự đầu hàng kia không lấp đầy được lòng tham không đáy của con sói Phù Tang. Đã bị đế quốc Pháp lùa người cướp của cung cấp cho chiến tranh lại bị đế quốc Nhật lăm le xâm chiếm đó là số phận đau đớn và nguy cơ của 25 triệu dân Đông Dương.

2. Chính sách cai trị của đế quốc Pháp trong đế quốc chiến tranh

Ngày càng phản động, kịp đến lúc chiến tranh xảy ra Chính phủ Đalađiê liền ra mặt phát xít hẳn. Chế độ phát xít ở Đông Dương là một thứ phát xít quân nhân thuộc địa nên lại càng tham tàn độc ác bội phần. Thừa dịp đế quốc chiến tranh để thẳng tay bóc lột, Chính phủ thuộc địa sung công tài sản tính mạng nhân dân một cách gắt gao. Hàng ngàn, hàng muôn người hoặc đã sắp bị lùa đi làm mồi cho súng đạn hoặc bị bắt đi làm đường ở nước độc.

Lúa, thóc, xe, ngựa bị tịch ký. Lại còn thải thầy, thợ, bớt lương, tăng giờ làm, lại còn tăng thuế cũ và đặt các thứ thuế mới. Lại còn quốc trái lạc quyên. Chiến tranh còn kéo dài mánh khoé bóc lột của đế quốc Pháp chưa biết đến đâu mà kể. Muốn ngăn đón và đập tan phong trào. Cách mệnh nhất định sẽ nổ bùng ra, đế quốc Pháp vịn vào chiến tranh ra lệnh giải tán Đảng Cộng sản, khủng bố thẳng tay, xét nhà, bắt người, giam cầm các chiến sĩ cộng sản cùng các phần tử cấp tiến trong dân chúng, khoá miệng và điều khiển tất cả các cơ quan thông tin, giải tán những hội ái hữu tương tế, lập thêm những sở mật thám chính trị.

Giữa lúc đó, ở bên kia, trước máy truyền thanh, thượng thơ thuộc địa Măngđen (Mandel) bắt chước Toàn quyền Xarô (Sarraut) hồi trước nói ngon nói ngọt, hẹn hò với dân thuộc địa một chế độ rộng rãi hơn và khuyên dân thuộc địa hết sức hết lòng với mẫu quốc! Khủng bố, lừa gạt chưa đủ, đế quốc Pháp còn dùng chính sách chia rẽ. Chia rẽ dân Việt Nam với dân Việt Nam, chia rẽ dân Việt Nam với các dân tộc Miên - Lào và các dân tộc thiểu số khác (chúng lợi dụng người dân tộc này bắn người dân tộc kia). Đế quốc Pháp lợi dụng thế lực phong kiến làm chỗ dựa cho chính sách bóc lột. Gần đây chúng định nhả một ít quyền cho tụi vua chúa bù nhìn, mượn tay bọn này sát hại dân chúng (vụ âm mưu trở lại Hiệp ước 1884 đặt Bắc Kỳ dưới quyền cai trị của Nam triều). Đế quốc Pháp cũng không quên động viên dư luận tiến hành một cuộc đại tiến công nói láo, ra lệnh cho mấy tờ báo bợ đỡ và lũ gia nô tẩu cẩu nói xấu cộng sản, công kích Liên Xô, kêu gọi nhân dân hiến mình nạp cho đế quốc chiến tranh. Đối với ngoài, đế quốc Pháp đầu hàng Nhật, mục đích để chống lại phong trào cách mệnh của dân thuộc địa, đồng thời để phá hoại cuộc kháng chiến của Trung Quốc và âm mưu chống Liên bang Xôviết. Bao nhiêu mưu mô của đế quốc Pháp tóm lại là chống cách mệnh để phụng sự cho chiến tranh đế quốc. Dù sao trước cái nguy cơ kinh tế và chính trị của chế độ tư bản ngày càng nặng nề, trước phong trào cách mệnh thế giới ngày càng sôi nổi, bao nhiêu mưu mô phản động của đế quốc cũng không thể làm ngừng được bánh xe tiến hoá của lịch sử.

3. Chính sách kinh tế tiền tệ và tài chánh trong cuộc đế quốc chiến tranh

Muốn đeo đuổi cuộc chiến tranh lâu dài, đế quốc Pháp động viên kinh tế trong nước và thuộc địa. Tất cả công nghệ, nông nghiệp đều phải sinh sản cho chiến tranh. Đông Dương là một xứ nông nghiệp không có kỹ nghệ chiến tranh nên sự cung cấp cho mẫu quốc không ra ngoài những nguyên liệu như than, sắt, cao su, v.v., và nhất là lương thực như: gạo, bắp, heo, trâu, bò, v.v., tăng thêm sức sinh sản trong lúc này là một điều rất quan trọng, rất cần thiết. Vì vậy, đế quốc Pháp đã tổ chức ngay "Đại hội đồng kinh tế tối cao Đông Dương", "Bộ tham mưu kinh tế Việt Nam" chuyên môn nghiên cứu để hợp lý hoá nông nghiệp trong xứ. Về mặt thương mại, đế quốc Pháp kiểm soát và điều khiển việc xuất cảng, nhập cảng những vật liệu cần thiết cho mình khỏi lọt ra nước ngoài. Về mặt tiền tệ, đế quốc Pháp bắt đầu tiêu thụ một thứ bạc cắc bằng chất may so (Maillechort) chẳng có giá trị gì. Tệ hơn nữa vừa rồi sở kho bạc lại in ra sáu triệu bạc cắc giấy không có gì bảo đảm cả. Đế quốc Pháp hạn chế số tiền đưa ra ngoại quốc mỗi người không quá 200đ. Việc mua bán vàng bị kiểm soát và hạn chế. Nhà băng Đông Pháp được độc quyền mua lại vàng ở các tiệm cầm đồ. Bạc gửi ở nhà băng Đông Pháp, tư nhân không được rút ra và nhà băng cũng không cho tư nhân vay nữa. Mục đích chính sách tiền tệ của đế quốc Pháp là thâu tóm hết thảy vàng bạc thiệt trong xứ để dùng vào đế quốc chiến tranh, nói rõ ra là để mua nguyên liệu và chiến cụ ở các nước khác. Về mặt tài chính, đế quốc Pháp xoay đủ cách để kiếm tiền sung vào chiến phí. Tăng thuế, quyên quốc trái chưa đủ, chúng thi hành cái chính sách gọi là tiết kiệm, rút bớt các khoản chi tiêu nhất là những khoản cần thiết cho dân như việc giáo dục, y tế, thể thao, dẫn thuỷ nhập điền. Chúng thải bớt thợ cùng các viên chức, bớt lương, tăng giờ làm. Nhà thương, trường học chẳng những không mở thêm, mà lại còn đuổi người đau và một số nhà trường đã phải nhường chỗ cho binh lính đóng.

Thất nghiệp, thất học, đói rét, yếu đau, chết chóc mặc kệ, miễn sao đục khoét được nhiều tiền để kéo dài đế quốc chiến tranh. Đó là mục đích chính sách tài chính của đế quốc Pháp.

4. Ảnh hưởng của chính sách kinh tế chiến tranh của đế quốc Pháp đến nền kinh tế Đông Dương

a) Kinh tế Đông Dương là nền kinh tế cốt yếu nông nghiệp; thi hành chính sách kinh tế chiến tranh (économie de guerre), Chính phủ ngăn cấm hoặc hạn chế xuất cảng, những công ty xuất nhập cảng độc quyền cùng bọn trung gian đầu cơ mua lúa, bắp của nông dân, điền chủ với một giá cực rẻ (giá gạo hạng nhì ở thị trường Sài Gòn vào đầu tháng 11 từ 5đ12 đến 5đ15 một tạ 60kilô mà nông gia điền chủ chỉ bán được có 2đ60 hoặc 2đ70, nghĩa là chỉ có nửa giá); nhà băng và các nhà giàu có lại rút tiền về không cho vay; nông dân và tiểu điền chủ không đủ tiền bạc lúa giống, phân bón để làm mùa hoa lợi vì đó sẽ kém sút, ruộng đất vì đó sẽ phải bỏ hoang. Những cuộc bắt lính đã rút mất một số khá đông nhân công và sẽ hàng triệu nữa, dân quê còn lại ở nhà bị bắt đi phu đi canh, kết quả ruộng đất sẽ thiếu người cày cấy. Bao nhiêu công điền ở Trung và Bắc Kỳ bị sung công đem bán đấu giá. Ruộng đất của nông dân bị bọn cố đạo, bọn thực dân, bọn địa chủ tàn ác cướp giật và bỏ hoang. Tất cả những tình hình ấy sẽ làm cho kinh tế nông nghiệp bị suy sụp, đổ nát.

b) Kỹ nghệ nhẹ và các ngành thủ công nghiệp trong xứ sẽ bị kém sút vì xuất, nhập cảng bị ngăn cấm, nguyên liệu cần thiết không đủ dùng, hàng hoá không tiêu thụ được hay khó tiêu thụ ra ngoài. Vì sức tiêu thụ của quần chúng kém sút, vì không thể vay mượn được, vì hạn chế sinh sản, chỉ sinh sản những vật liệu chiến tranh. Các ngành thủ công nghiệp bị thuế má nặng nề, nợ cao lời rút rỉa nên phải chìm đắm trong cảnh tiêu điều và sẽ đi đến chỗ tiêu diệt.

c) Sinh hoạt đã hết sức đắt đỏ và sẽ còn đắt đỏ thêm, vì bọn đầu cơ trục lợi, vì đồng bạc phá giá và sẽ lăn xuống cái dốc phá giá ghê gớm, vì sự độc quyền và củ soát ngoại thương, quảng đại quần chúng không tiền mua đồ cần thiết, thương nghiệp vì đó bị đình đốn nguy ngập. Nói tóm lại những vết thương của cuộc tổng khủng hoảng chưa lành đã tiếp đến cuộc khủng hoảng mới. Giờ đây chính sách kinh tế chiến tranh của đế quốc Pháp lại sẽ gây nên những ảnh hưởng khốc liệt làm cho cuộc khủng hoảng hết sức nặng nề và xô nền kinh tế Đông Dương vào cảnh điêu tàn đổ nát.

5. Tình hình và thái độ các giai cấp xã hội Đông Dương

Chính sách kinh tế chiến tranh của đế quốc Pháp ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình các giai cấp xã hội trong xứ.

a) Địa chủ: Trong giai cấp địa chủ có một số đại địa chủ tuy giá nông sản hạ, nhưng họ ít bị thiệt hại bởi nạn đầu cơ. Trái lại họ nhân cơ hội này để tịch ký hoặc mua rẻ ruộng đất của nông dân và tiểu điền chủ mà làm giàu. Đám đông trung tiểu điền chủ bị thiệt hại nhiều vì lúa rẻ phải bán đổ, bán trút đi để trả nợ và tiêu xài không đủ, vay mượn không được, thuế nặng, lúa bắp, trâu bò sẽ bị sung công; ruộng đất sụt giá. Nếu dù họ có bóc lột nông dân cũng không đủ trả nợ nhà băng cùng đại địa chủ, họ sẽ bị sa sút và có khi sẽ phải bị tịch ký hết gia sản.

b) Tư sản bổn xứ: Tuy ở thành thị có một vài ngành có hy vọng mở mang để cung cấp cho chiến tranh hoặc vì chiến tranh vận tải khó nên sẽ có thể mở thêm một vài thứ kỹ nghệ nhỏ ở thuộc địa (như hàng dệt, áo len, làm đường, làm dầu, xà bông, xe hơi đốt bằng than củi). Nhưng nói chung thì xưa nay kinh tế Đông Dương vẫn bị phụ thuộc kinh tế Pháp, lại thêm không có tư bản để kinh dinh (vì lúc này nhà băng không cho vay) nên sự hy vọng có thể phát triển rất chật hẹp và ít ỏi. Trái lại nhiều ngành bị thiệt hại sa sút vì chính sách sung công (xe hơi, xe đò) vì thuế quốc phòng rất nặng và vì sức tiêu thụ của quần chúng kém sút. Đám phú nông tức tư bản ở thôn quê cũng bị thiệt hại như tiểu điền chủ, lại thêm nạn thiếu nhân công nên cũng không tránh khỏi bị khốn đốn dù được bù lại bằng sự bóc lột dân cày.

c) Tiểu tư sản thành thị: Thuế ba tăng và tiền phố nặng, sức tiêu thụ kém, buôn bán ế ẩm, vốn ít, không có chỗ vay lại không mua chịu được (các công ty thương mại lớn không bán chịu nữa) nên một số đông tiểu chủ, tiểu thương đã phải đóng cửa và phá sản. Viên chức bị sụt lương không được thăng trật, phải làm thêm giờ, ngày chủ nhật nhiều khi không được nghỉ, công việc phải làm gấp đôi vì một số đông viên chức bị động viên và các công sở không lấy thêm người. Đã vậy lại bị tăng thêm thuế lương bổng hoặc thuế thân, sinh hoạt đắt đỏ nên tình cảnh rất nguy ngập.

d) Nông dân: Bị nạn bán rẻ, mua đắt, vay siết họng, địa tô cao, bị cướp ruộng, sưu thuế nặng, xâu tư ích5), lại bị tịch thâu xe ngựa, đến ngay lúa, bắp, trâu bò, tài sản rồi cũng sẽ lần lượt bị sung công, bao nhiêu của mồ hôi nước mắt sẽ bị vơ vét hết. Trung, bần nông sẽ bị phá sản cả đám, tất cả sẽ bị đói rét cùng cực.

đ) Thợ thuyền: Những luật xã hội ban hành ở Đông Dương sau khi Chính phủ bình dân lên cầm quyền hiện nay đã bị thủ tiêu hết. Nghị định của Toàn quyền Đông Dương ngày 10-11-1939 đã tăng giờ làm việc lên từ 60 đến 72 giờ mỗi tuần, nghĩa là từ 10 đến 12 giờ một ngày. Thợ làm trong các xưởng kỹ nghệ cung cấp cho chiến tranh nếu không chịu làm việc sẽ bị phạt nặng. Tiền lương không được tăng còn bị rút bớt. Một số bị sa thải, thất nghiệp bơ vơ; càng nguy hơn nữa là thợ thuyền chỉ có hai bàn tay trắng, lúc bị động viên vợ con sẽ hết chỗ nương dựa và lâm vào cảnh đói khổ. Nói tóm lại chính sách kinh tế tài chính của đế quốc Pháp trong lúc chiến tranh sẽ hút hết máu mủ của dân chúng; nó sẽ làm cho ruộng đất và tư bản tập trung rất mau vào tay bọn tư bản tài chính và đại địa chủ, còn dân chúng ngày càng đói khổ, phá sản, sống dở, chết dở.

Trong khi ấy chính sách thuộc địa thi hành theo lối phát xít quân nhân. Bọn phong kiến bổn xứ đã hoàn toàn làm tay sai cho đế quốc và bám chặt vào đế quốc. Bảo Đại và bọn vua Miên, Lào đua nhau hô hào dân chúng ra đầu quân, gắng sức làm việc và rán chịu hy sinh để phụng sự mẫu quốc. Đại địa chủ tuy có đôi chút xung đột với tư bản tài chính nhưng vì quyền lợi mật thiết với đế quốc và phong kiến nên thường thường thoả thiệp với đế quốc hoặc phản động ra mặt. Tư sản bổn xứ cùng trung tiểu địa chủ về kinh tế đã bị bó buộc, thiệt hại, về chính trị không được cải cách rộng rãi nên càng bất mãn với đế quốc và có ít nhiều tinh thần chống đế quốc. Tuy vậy, vì thế lực rất hèn yếu và chính họ cũng đứng về địa vị bóc lột (tư sản bổn xứ bóc lột thợ thuyền, trung tiểu địa chủ bóc lột dân cày, nên năng lực phản đế của họ rất yếu ớt, họ rất ngã từ phe này qua phe khác, họ có thể đi với dân chúng trong một lúc nào, nhưng nếu được cải cách thoả mãn, hoặc phong trào quần chúng lên cao động chạm tới quyền lợi của chúng, chúng sẽ xoay qua phe đế quốc. Tiểu tư sản thành thị bị nhiều hoàn cảnh áp bức nên có năng lực phản đế cách mệnh, song vì bản tính của họ đứng giữa tư bản và vô sản nên không chắc chắn, không thể là lực lượng lãnh đạo cách mệnh giải phóng đến triệt để. Nông dân bị ba bốn tầng áp bức bóc lột lại chiếm tới đại đa số trong nhân dân đã bao phen nổi dậy chống đế quốc, địa chủ. Cùng với giai cấp vô sản, nông dân là một trong hai động lực căn bản của cách mệnh Đông Dương. Vô sản giai cấp Đông Dương, tuy số lượng tương đối ít, tuy còn non nớt trẻ tuổi, song vì không có chút thủ đoạn sinh sản nào ngoài dây xiềng xích của tư bản trói buộc, vì tập trung ở chỗ yết hầu của tư bản đế quốc, lại sinh nhằm thế kỷ XX là thời đại đế quốc chủ nghĩa và vô sản cách mệnh thế giới, nên chẳng những vô sản là một động lực cách mệnh mạnh mẽ phi thường mà còn là lực lượng lãnh đạo của cách mệnh. Từ năm 1930-1931 đến nay ta đã thấy rõ vai trò lãnh đạo của vô sản giai cấp trong phong trào cách mệnh Đông Dương.

6. Các đảng phái và xu hướng chính trị

a) Bọn phong kiến Việt Nam dựa vào đế quốc để giữ đặc quyền, đặc lợi, chia ra làm mấy phe đảng.

1. Chính phủ Nam triều Bảo Đại: đã hoàn toàn bán mình cho đế quốc Pháp làm tay sai đắc lực cho đế quốc trong cuộc đàn áp phong trào cách mệnh năm 1930-1931. Gần đây Bảo Đại và bọn Bảo hoàng Quỳnh, Bổng lại vâng lệnh đế quốc hô hào thi hành trở lại Hiệp ước 1884, đem những tiếng "quốc quyền", "lập hiến", "thống nhất quốc gia" ra lừa gạt, nhưng kỳ thật là bọn tay sai vụng về của đế quốc Pháp. Đế quốc muốn lợi dụng bọn này làm tấm bình phong để chống lại sự tuyên truyền của bọn thân Nhật và để thêm sức đàn áp dân chúng.

2. Phe 1884: ở Trung Kỳ tức là phe Khôi, Diệm muốn dựa trên nền tảng pháp luật yêu cầu đế quốc Pháp thi hành đúng Hiệp ước 1884 tăng quyền cho bọn vua quan bổn xứ. Sự khác nhau ít nhiều giữa hai phe trên này là công ty Bảo Đại, Phạm Quỳnh đã hoàn toàn làm nô lệ một cách vô liêm sỉ cho đế quốc, còn phe Khôi - Diệm còn đôi chút ý muốn chống chính sách độc đoán của đế quốc, nhưng cũng dựa vào đế quốc, không thể rời đế quốc được.

3. Phe Cường Để thân Nhật: Cường Để là một anh phong kiến bất đắc chí lúc trước được cánh Văn Thân đem ra ngoài dùng làm cây cờ để hiệu triệu dân chúng. Nhưng sau khi thất bại, Cường Để nương náu ở Nhật đã bị đế quốc Nhật mua chuộc. Hiện nay Cường Để đã trở nên tay sai cho Nhật mong được đóng vai trò Phổ Nghi Việt Nam. Những tư tưởng trái mùa của một ít nhà nho "Đông Du" (các cụ Văn Thân du học ở Nhật về) còn sót lại nói Nhật với An Nam: "đồng văn", "đồng chủng" đã vô tình hay cố ý dọn đường cho một kẻ ngoại xâm khác.

b) Đại biểu cho giai cấp tư sản bổn xứ và địa chủ có những đảng phái và cơ quan báo chí sau này:

Đảng Lập hiến có tờ Tribune Indochinoise (Đông Dương diễn đàn) làm cơ quan, là một xu hướng cải lương trước kia được giai cấp tư sản bổn xứ và địa chủ ở Nam Kỳ ủng hộ khá đông, nhưng nay vì chủ trương "Pháp-Việt đề huề" đầu hàng đế quốc, bị thất bại và một bọn lãnh tụ chỉ biết vinh thân phì gia đã phản bội quyền lợi dân tộc và ngay cả quyền lợi giai cấp chúng nó, còn một bọn lãnh tụ hèn nhát nên Đảng Lập hiến càng mất tín nhiệm trong đám đông tư sản địa chủ.

Đảng Dân chủ: tổ chức ở Nam Kỳ chưa bao lâu cũng là một xu hướng quốc gia cải lương, phần nhiều gồm những phần tử tư sản địa chủ đã chán ghét Đảng Lập hiến, song từ khi thành lập cũng không chịu hoạt động gì.

Phái trực trị: ở Bắc Kỳ do Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Huy Lục cầm đầu có báo An Nam Nouveau (An Nam thời mới) làm cơ quan, yêu cầu cho giai cấp tư sản bổn xứ được tham gia chính trị rộng rãi hơn dưới quyền cai trị trực tiếp của đế quốc. Chống với chủ trương "Lập hiến của bọn Bảo Hoàng - Quỳnh - Bổng", phái trực trị gần đây có tham gia ít nhiều vào cuộc vận động chống trở lại Hiệp ước 1884 ở Bắc. Tuy vậy bản chất của phái này vốn là phản động, những lãnh tụ của nó đã nhiều lần bán mình cho đế quốc, phản bội quyền lợi dân tộc.

Báo Effort do Vũ Đình Di chủ trương đòi một chế độ tự trị cả về kinh tế lẫn chính trị là một phái tư sản tự do (Bourgeoisie Libérale) có ảnh hưởng ít nhiều trong đám trí thức tiểu tư sản. Những điều yêu cầu của phái này hợp với nguyện vọng giai cấp tư sản bổn xứ. Tuy nhiên cũng hô hào suông trên mặt báo, không có hoạt động gì. Ngoài ra còn có một vài cơ quan như báo Tiếng dân ở Trung, báo Ngày nay ở Bắc, báoVăn Lang ở Nam đều có xu hướng quốc gia cải lương. Báo Văn Lang là do một số bác sĩ có tư tưởng tự do chủ trương. Báo Ngày nay thiên về mặt văn hoá hơn chính trị. Báo Tiếng dân của ông Huỳnh Thúc Kháng đôi khi hô hào cải cách trên mặt báo. Nói tóm lại, trong xu hướng quốc gia cải lương, có bọn đã trở nên hoàn toàn phản động, làm tay sai cho đế quốc Pháp. Còn phần đông lừng chừng khiếp nhược tuy thấy bất bình chính sách áp bức dã man của đế quốc song lại sợ phong trào cách mệnh của quần chúng.

c) Giai cấp tiểu tư sản đã tổ chức nhiều Đảng cách mệnh quốc gia như: Việt Nam Quốc dân Đảng, Bình dân cấp tiến cách mệnh Đảng, Việt Nam độc lập Đảng (của Nguyễn Thế Truyền ở Pháp), Việt Nam cách mệnh Đảng (của Hải Thần ở Trung Quốc). Các Đảng cách mệnh tiểu tư sản ấy có Đảng không có cơ sở gì trong quần chúng (như Việt Nam cách mệnh Đảng, Việt Nam độc lập Đảng). Có Đảng bị tan rã trong một thời kỳ khá lâu chưa khôi phục lại được (như Việt Nam Quốc dân Đảng). Tuy nhiên xét theo điều kiện cụ thể xứ Đông Dương là một xứ thuộc địa, tư bản mới vừa phát triển ít nhiều, giai cấp tiểu tư sản còn năng lực cách mệnh phản đế, nên ta có thể chắc trong quá trình cách mệnh tới đây, các đảng phái cách mệnh tiểu tư sản, hoặc sẽ thành lập, hoặc tổ chức lại sẽ nhảy ra hoạt động với chương trình cốt yếu là quốc gia cách mệnh, đồng thời có thể nhuộm ít màu xã hội chủ nghĩa để thu phục quần chúng công nông.

d) Đảng Cộng sản Đông Dương là đảng của vô sản giai cấp, bênh vực quyền lợi của thợ thuyền, nông dân và tất cả nhân dân bị áp bức, lãnh đạo tranh đấu để hoàn toàn giải phóng cho tất cả các dân tộc Đông Dương, triệt để giải phóng cho thợ thuyền và quần chúng bị bóc lột. Tuy còn tương đối trẻ tuổi song đã rèn luyện trong trường tranh đấu khi ôn hoà khi đổ máu, khi bí mật khi công khai. Trên võ đài chính trị trong xứ, Đảng Cộng sản Đông Dương là đảng có thế lực nhất, có cơ sở vững vàng nhất trong quần chúng, chiến đấu cương quyết hơn hết để bênh vực quyền lợi cho dân chúng và tranh đấu đòi tự do, độc lập cho dân tộc. Nhờ vậy Đảng Cộng sản Đông Dương đã chiếm vai trò lãnh đạo trong phong trào cách mệnh Đông Dương và chỉ dưới quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản cuộc cách mệnh Đông Dương mới triệt để thắng lợi.

đ) Đạo Cao đài và Phật giáo: Quần chúng có ít nhiều tinh thần phản đế theo đạo Cao đài và Phật giáo khá nhiều, nhất là sau những năm khủng bố 1930-1931, đạo Cao đài ở Nam Kỳ kéo được một số đông tín đồ, nhưng nhờ thực tế thức tỉnh và nhờ phong trào dội lướt nên có một số quần chúng theo các đạo ấy đã dần dần nhận rõ con đường đoàn kết tranh đấu để đòi quyền lợi, đã có một số ra khỏi đạo Cao đài. Đế quốc chủ nghĩa Pháp rất xảo quyệt, đã tìm cách lợi dụng những trào lưu tôn giáo để mê hoặc quần chúng. Những hội chấn hưng Phật giáo ở khắp Bắc - Nam - Trung do bọn hưu quan và địa chủ cầm đầu có kế hoạch của sở mật thám chính trị bày vẽ. Còn bọn lãnh tụ Cao đài lúc trước phần nhiều bị bọn tay sai Nhật mua chuộc và lừa gạt quần chúng tín đồ theo ảnh hưởng thân Nhật. Từ khi đế quốc Pháp dự vào chiến tranh, vì tình hình căng thẳng và vì đế quốc Pháp tìm cách mua chuộc phần nhiều lãnh tụ Cao đài lúc này đã trở nên tay sai của đế quốc Pháp, hô hào tín đồ ra đầu quân giúp "mẫu quốc", che đậy sự tráo trở đầu hàng đế quốc Pháp của chúng bằng câu: "Đi lính để quay mũi súng đánh Tây". Tóm lại bọn lãnh tụ Cao đài là bọn bản tính phản động, đòn xóc hai đầu, tuỳ theo cơ hội hoặc làm tay sai cho đế quốc này, hoặc bán mình cho đế quốc khác; còn quần chúng tín đồ Cao đài thì có ít nhiều tinh thần phản đế, nhưng còn nhiều mê tín thần bí nên bị bọn lãnh tụ xỏ lá lừa gạt.

e) Đảng Phục Việt: Do Việt Nam y học hội ở Nam Kỳ tổ chức ra, cầm đầu là Đặng Thúc Liêng, Phủ Hùng; kết nạp bọn địa chủ tư bản và quan lại bổn xứ làm "đầu dây" mong lường gạt lôi kéo quần chúng theo họ để đánh đổ đế quốc Pháp, rước Cường Để về làm vua và đế quốc Nhật sang thay thầy đổi chủ. Một điều đáng chú ý là họ muốn liên lạc với cộng sản để mong rút quần chúng đã theo ảnh hưởng cộng sản.

g) Còn một vài phe Đảng như "Thiên địa hội", Phan Xích Long (ở Nam Kỳ), Bạch Tuyết Cừu (ở Bắc Kỳ) phần nhiều gồm những tay phiêu lưu, hoặc "anh chị" cũng có đôi chút tinh thần phản đế, song chỉ âm mưu khủng bố cá nhân và chủ trương ăn cướp chớ không có vận động và tổ chức quần chúng. Những tay lưu manh không phải là lực lượng cách mệnh, họ rất dễ bị mua chuộc, khi phong trào cách mệnh lên cao, bị khủng bố họ mau chạy qua phe quân thù.

h) Bọn tờrốtkít là bọn khiêu khích phá hoại chia rẽ rất ghê tởm, là bọn tiền phong cho phát xít chủ nghĩa, bọn thù địch rất nguy hiểm của cách mệnh, vì chúng che đậy hành vi phản động của chúng bằng những câu "cách mệnh cực tả" đầu lưỡi, vì chúng đã mập mờ mạo nhận là cộng sản, chui rúc vào hàng ngũ thợ thuyền, là lực lượng cách mệnh hơn hết. Bọn tờrốtkít ở Đông Dương cũng như bè lũ chúng ở thế giới, không còn là một xu hướng chính trị nữa. Chúng dùng mọi thủ đoạn ghê tởm để phá hoại phong trào cách mệnh. Len lỏi vào hàng ngũ công nông, chúng hô những câu cách mệnh đầu lưỡi để lừa gạt; nhưng âm thầm với bọn tư bản, địa chủ thì chúng lại bày cho bọn này kế hoạch phá tranh đấu, diệt cộng sản và được bọn này trợ cấp nhiều tiền bạc.

Giữa lúc khủng bố này chúng lại đóng vai trò khiêu khích khốn nạn làm tay sai đắc lực cho lính kín. Ở miệt Cà Mau, bọn tờrốtkít gây ra những cuộc tranh biện giữa công chúng rồi điểm chỉ cho lính kín bắt những người hăng hái. Tuy nhiên, cần phân biệt bọn tờrốtkít phá hoại phong trào cách mệnh với những phần tử công nông trí thức lầm theo chúng.

7. Vấn đề dân tộc

Xứ Đông Dương gồm có nhiều dân tộc: Việt Nam, Miên, Lào, Thượng, Mường, Chàm, Mán, v.v., trong đó có ba dân tộc Việt Nam, Lào, Miên ở riêng ba xứ khác nhau và đã từng có một lịch sử, một văn hoá riêng. Còn những dân tộc thiểu số Thổ, Mán, Mường, Thượng đều là những bộ lạc sơ khai sống trên miền rừng núi xứ Bắc và Trung Kỳ. Ngoài các dân bổn xứ ra, trong đám kiều dân ngoại quốc ở Đông Dương cần đặc biệt chú ý đến người Hoa Kiều. Hoa Kiều ở Đông Dương kể đến số ức số triệu, trong ấy tuy có một số tư bản và ít tay địa chủ song đại đa số là tiểu công nghệ, tiểu thương gia buôn gánh bán bưng và công nhân. Tuy là người ngoại quốc song là con cháu của một dân tộc bán thuộc địa nên họ không được đối đãi như kiều dân ngoại quốc khác, mà lại bị đế quốc Pháp áp chế đủ đường. Cho nên trừ một nắm đại tư bản ra, Hoa kiều ở Đông Dương là đồng minh tốt của cách mệnh Đông Dương. Vượt qua những thành kiến dân tộc và sự chia rẽ của đế quốc tư bản, những thợ thuyền Trung Quốc đã nhiều lần tranh đấu bên cạnh thợ thuyền Việt Nam, nhất là mấy năm sau này trong cuộc vận động ủng hộ cuộc kháng chiến của dân tộc Trung Hoa, hai dân tộc Nam - Hoa đã tỏ ra những cảm tình thân ái và liên lạc mật thiết.

Mối quan hệ về kinh tế và chính trị giữa các dân tộc Đông Dương: Tuy bị đế quốc tìm cách chia rẽ cho dễ cai trị, tuy có nhiều điều kiện lịch sử và văn hoá khác nhau, các dân tộc Việt Nam, Miên, Lào và các dân tộc thiểu số khác cùng sinh hoạt trên dải đất chữ S, đều có liên quan về kinh tế và chính trị, tất cả đều bị đế quốc áp bức, tất cả đều bị bóc lột bởi những độc quyền tư bản tài chánh, tất cả đều nằm dưới một bộ máy đàn áp thống nhất về chính trị và quân sự của đế quốc Pháp. Phong trào giải phóng các dân tộc vì vậy có mật thiết quan hệ với nhau và phải dựa lẫn nhau.

Chính sách áp bức và chia rẽ dân tộc của đế quốc Pháp: Đế quốc Pháp coi dân bổn xứ như trâu ngựa, như cỏ rác. Nó lại kích thích những thù hằn dân tộc, kéo lính dân tộc này đến đàn áp dân tộc khác (đưa lính Miên, lính Thượng ra đàn áp phong trào dân tộc Việt Nam).

Chính mình, dân tộc Việt Nam cũng bị chặt làm ba khúc Trung - Nam - Bắc và đế quốc xúi giục cho dân ba xứ kỳ thị lẫn nhau nữa.

Đế quốc Pháp tìm hết cách giấu bịt và xoá nhoà những trang lịch sử oanh liệt của các dân tộc bị áp bức, đồng thời nó lại dùng bọn chó săn đem những tiếng "quốc gia", "dân tộc" ra lừa gạt mong dìm giam mãi các dân tộc bị trị dưới ách nô lệ tối tăm.

Phong trào dân tộc: Phong trào dân tộc ở Đông Dương từ khi bị đế quốc Pháp cai trị đã trải qua nhiều đoạn tranh đấu vẻ vang. Khi ôn hoà, khi đổ máu, tất cả các dân tộc Đông Dương từ Việt Nam, Miên, Lào đến các dân tộc thiểu số Thổ, Thượng, v.v., đã nhiều lần nổi dậy chống chính sách cướp bóc tàn ác và ách thống trị nặng nề của đế quốc. Trên miền rừng núi Trung Kỳ và Bắc Kỳ tới nay vẫn còn nhiều bộ lạc dân thiểu số chưa chịu quy phục hẳn đế quốc và vẫn còn kịch liệt chống lại đế quốc cùng bọn thực dân cướp bóc (như cuộc xung đột của dân Thượng ở Kon Tum hồi đầu năm 1938 với đế quốc). Con cháu của Trưng Vương, Triệu Ẩu, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Thái Tổ, Nguyễn Huệ, Phan Đình Phùng dân tộc Việt Nam đã nêu cao nhiều gương tranh đấu đòi giải phóng. Từ khi thuộc Pháp, phong trào giải phóng dân tộc Đông Dương đã trải qua bốn giai đoạn: 1) Từ lúc đế quốc Pháp đến xâm chiếm đến cuộc đế quốc chiến tranh 1914-1918, phong trào dân tộc do phong kiến và các bậc văn thân cầm đầu đều có tính chất đánh đổ đế quốc, lập lại nước độc lập quân chủ. 2) Từ sau đại chiến 1914-1918 đến 1925-1926 là lúc tư bản bổn xứ bắt đầu phát triển ở Đông Dương, phong trào dân tộc do giai cấp tư sản cầm đầu và có tính chất quốc gia cải lương. 3) Từ 1926 đến cuộc bạo động Yên Bái (2-1930) phong trào dân tộc do giai cấp tiểu tư sản bổn xứ cầm đầu và có tính chất quốc gia cách mạng. 4) Từ 1930-1931 trở lại đây, phong trào dân tộc do vô sản giai cấp, do Đảng Cộng sản lãnh đạo đòi hoàn toàn giải phóng dân tộc, nhưng không có tính chất quốc gia eo hẹp, chủ trương tất cả các dân tộc bình đẳng như anh em.

Vị trí của vấn đề dân tộc: Vấn đề dân tộc ở Đông Dương phải xét theo hai mặt: một mặt là các dân tộc Đông Dương đoàn kết thống nhất đánh đổ đế quốc Pháp đòi Đông Dương hoàn toàn độc lập và các dân tộc được quyền tự quyết; một mặt nữa là phong trào dân tộc giải phóng ở Đông Dương phải liên lạc khăng khít với cách mệnh thế giới (là một bộ phận của cách mệnh vô sản thế giới) để đánh đổ kẻ thù chung là tư bản đế quốc và xây dựng một thế giới không có dân tộc bị áp bức, không có ranh giới quốc gia và chia rẽ dân tộc, nghĩa là thế giới cộng sản.

Trong thời đại tư bản chủ nghĩa đã phát triển đến giai đoạn cuối cùng là đế quốc chủ nghĩa, nhất là lúc nó đã dùng đến chuyên chính phát xít, muốn xét đoán một phong trào dân tộc cần hiểu thấu nội dung của nó. Phong trào dân tộc nào thuận và giúp ích cho cách mệnh thế giới là phong trào tiến bộ và cách mệnh, còn phong trào dân tộc nào do một đế quốc nào lợi dụng gây nên để chia lại thị trường thuộc địa, nghịch với cách mệnh thế giới tức là phản động. Ví dụ cuộc vận động trở lại Hiệp ước 1884 của bọn Quỳnh - Bổng tự xưng là "thống nhất quốc gia" mà kỳ thực là tay sai cho đế quốc Pháp hay cuộc vận động của phe đảng Cường Để thân Nhật nói là đòi "độc lập", "tự trị" mà kỳ thực là tay sai cho đế quốc Nhật, cả hai phong trào gọi là "dân tộc" ấy đều có tính chất phản động, cần phải đập tan.

Thái độ các giai cấp đối với vấn đề dân tộc: 1) Giai cấp phong kiến đã hoàn toàn phản bội quyền lợi dân tộc dù là bọn tượng gỗ làm tay sai cho đế quốc Pháp ở trong xứ, hay bọn bù nhìn làm tay sai cho đế quốc Nhật ở ngoài. 2) Giai cấp tư sản bổn xứ và địa chủ, chủ trương quốc gia cải lương, một bộ phận đã làm tay sai cho đế quốc phản bội dân tộc, còn đám đông tuy bất bình đế quốc, song rất dễ thoả hiệp. 3) Giai cấp tiểu tư sản chủ trương quốc gia cách mệnh nhưng thường là óc quốc gia eo hẹp cũng không nhìn nhận quyền dân tộc tự quyết của các dân tộc Đông Dương. Họ lại không nhìn nhận sự phân hoá giai cấp trong xã hội Đông Dương, không cương quyết bênh vực quyền lợi giai cấp thợ thuyền và nhân dân bị bóc lột. Như thế họ không thể lãnh đạo cuộc cách mệnh giải phóng Đông Dương và họ không thể đi xa hẳn cuộc cách mệnh phản đế.

Đảng Cộng sản tranh đấu cho sự thống nhất dân tộc Việt Nam không phải bằng cách quỵ luỵ hay mặc cả với đế quốc, xin đế quốc ban cho một "hiến pháp". Trái lại bằng cách liên hiệp tất cả các dân tộc, các giai cấp, các đảng phái phản đế để đánh đổ đế quốc làm cách mệnh giải phóng dân tộc. Đảng Cộng sản luôn luôn chú ý bênh vực quyền lợi của vô sản và quần chúng lao động và Đảng sẽ lãnh đạo cuộc cách mệnh tới triệt để giải phóng vô sản giai cấp và dân chúng lao động.

8. Liên quan lực lượng các giai cấp

Phân tích tình hình xứ Đông Dương ta thấy mối liên quan lực lượng các giai cấp như dưới đây: a) Một bên là đế quốc Pháp cầm hết quyền kinh tế, chính trị dựa vào bọn vua quan bổn xứ thối nát và bọn chó săn phản bội dân tộc. b) Một bên là tất cả các dân tộc bổn xứ bị đế quốc chủ nghĩa Pháp áp bức như trâu ngựa và đẽo rút xương tuỷ. Trong lúc này tất cả các dân tộc từ Việt Nam, Miên, Lào đến Thổ, Thượng, v.v., tất cả các giai cấp trừ bọn phong kiến và một số bộ phận phản động trong đám địa chủ và tư sản, tất cả các đảng phái, trừ bọn chó săn đế quốc phản bội quyền lợi dân tộc, đều phải gánh những tai hại ghê tởm của đế quốc chiến tranh, đều căm tức kẻ thù chung là đế quốc chủ nghĩa. Những thảm trạng do đế quốc chiến tranh gây nên sẽ làm cho trình tự cấp tiến hoá và cách mệnh hoá của quần chúng hết sức mau chóng... Lòng phẫn uất sẽ sôi nổi, cách mệnh sẽ nổ bùng.

9. Đông Dương trong cuộc đế quốc chiến tranh lần trước với Đông Dương trong cuộc chiến tranh lần này

So sánh tình hình Đông Dương trong cuộc đế quốc chiến tranh hiện tại với tình hình Đông Dương trong cuộc chiến tranh lần trước, ta thấy có nhiều sự khác nhau quan trọng: a) Đông Dương trong cuộc chiến tranh lần trước chưa bị ảnh hưởng nạn khủng hoảng mấy, lần này Đông Dương đã bị lôi cuốn vào nạn tổng khủng hoảng của tư bản. b) Cuộc đế quốc chiến tranh lần trước, Đông Dương cũng phải cấp binh lính và tiền bạc cho đế quốc Pháp, song chưa bị sung công hết cả sinh mệnh tài sản như cuộc chiến tranh này. c) Cuộc đế quốc chiến tranh 1914-1918, Đông Dương chưa bị thống trị dưới ách phát xít quân nhân như bây giờ. d) Trong cuộc chiến tranh 1914-1918, phong kiến bổn xứ còn tinh thần phản đế (Duy Tân), bây giờ bọn Bảo Đại cũng như vua chúa Miên, Lào đã trở nên nô lệ thuần thục cho đế quốc. đ) Trong cuộc đế quốc chiến tranh lần trước dân chúng Đông Dương tối đại đa số chưa giác ngộ; lần này các dân tộc Đông Dương đã trải qua kinh nghiệm đau đớn bị đế quốc lừa gạt hứa hẹn suông, sẽ không để cho đế quốc ru ngủ, quyết sẽ đứng lên đạp tung dây xiềng xích trói buộc từ ba, bốn thế kỷ nay, e) Khác với cuộc đế quốc chiến tranh lần trước, lần này giai cấp phân hoá trong xứ đã rõ rệt và đã có nhiều đảng phái, đặc biệt là có Đảng Cộng sản là đảng tận tuỵ với quyền lợi dân chúng và triệt để cách mệnh, lãnh đạo cuộc cách mệnh giải phóng dân tộc. g) Cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ ghê tởm gấp trăm, gấp ngàn lần trước, tư bản chủ nghĩa hấp hối đương giẫy giụa trong đống lửa tổng khủng hoảng, cách mệnh thế giới đương phát triển bồng bột, cách mệnh dân tộc giải phóng Đông Dương sẽ được cách mệnh nhân dân giải phóng ở các nước tư bản, cách mệnh giải phóng dân tộc ở các xứ thuộc địa, đặc biệt là cuộc cách mệnh Trung Quốc và được Liên bang Xôviết thành trì cách mệnh thế giới giúp đỡ.

Căn cứ theo những tình thế mới ấy, cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị gây nên bởi đế quốc chiến tranh lần này sẽ nung nấu cách mệnh Đông Dương nổ bùng và tiền đồ cách mệnh giải phóng Đông Dương nhất định sẽ quang minh rực rỡ.

III

CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG

Trước kia trong khi đế quốc Pháp còn có thể đứng vào Mặt trận dân chủ thế giới chống phát xít xâm lược, chống chiến tranh để duy trì hoà bình, chính sách cai trị ở chính quốc và thuộc địa có đôi chút tính chất tấn bộ, dân chúng Đông Dương một mặt vì còn có thể lợi dụng những sự có thể công khai (Possibilités légales) của tư sản dân chủ, lại nhờ Mặt trận bình dân Pháp là điều kiện thuận tiện để tranh đấu chống phản động thuộc địa đòi cải cách tiến bộ, đòi cơm áo, chống sự hăm doạ của phát xít Nhật để giữ gìn hoà bình; một mặt vì tình thế quốc tế và trong xứ chưa đặc biệt căng thẳng, vận mệnh và tài sản của dân chúng Đông Dương chưa trực tiếp bị hăm doạ, chưa đẩy dân chúng lên đường tranh đấu quyết liệt với đế quốc Pháp, thì trong lúc nhất định ấy, hình thức tổ chức và tranh đấu thích hợp hơn hết và cần thiết hơn hết của dân chúng là lập mặt trận dân chủ chống phản động thuộc địa và chống phát xít xâm lược.

Bây giờ tình thế đã đổi khác hẳn, đế quốc Pháp hiện giờ là một tên thủ phạm đương phát động cuộc thế giới đế quốc chiến tranh. Chính sách cai trị của Chính phủ Đalađiê đã hoàn toàn phản động (phát xít hoá). Sự thống trị các thuộc địa, nhất là Đông Dương là một chế độ quân nhân phát xít rõ rệt và sự mưu mô đầu hàng thoả hiệp với phát xít Nhật đã đặt ra trước mắt vấn đề sống còn của các dân tộc Đông Dương.

Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng độc lập. Đế quốc Pháp còn, dân chúng Đông Dương chết. Đế quốc Pháp chết, dân chúng Đông Dương còn. Cuộc thế giới đế quốc chiến tranh sẽ làm cho đế quốc chủ nghĩa thế giới ngày càng yếu dần, trái lại vì những sự đau đớn, thê thảm do chiến tranh gây nên bắt dân chúng phải chịu, làm cho họ càng bất bình, căm tức nên phong trào cách mệnh thế giới sẽ càng to rộng, mạnh mẽ, những lò lửa cách mệnh thế giới tất nhiên sẽ bùng cháy. Sự bóc lột tàn ác của đế quốc Pháp ở Đông Dương để cung cấp cho chiến tranh sẽ làm cho dân Đông Dương ngày càng cách mệnh hoá. Cuộc cách mệnh đánh đổ đế quốc Pháp của các dân tộc Đông Dương nhất định sẽ nổ bùng.

Căn cứ vào những sự biến đổi trên quốc tế và trong xứ và sự biến chuyển mới của phong trào cách mệnh thế giới và Đông Dương, Đảng ta phải thay đổi chính sách.

Mặt trận dân chủ thích hợp với hoàn cảnh trước kia, ngày nay không còn thích hợp nữa. Ngày nay phải thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương (M.T.T.N.D.T.P.Đ.Đ.D) để tranh đấu chống đế quốc chiến tranh, đánh đổ đế quốc Pháp và bọn phong kiến thối nát, giải phóng các dân tộc Đông Dương làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập.

Nội dung và đặc điểm của Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương (M.T.T.N.D.T.P.Đ.Đ.D): là hình thức liên hiệp tất cả các dân tộc Đông Dương dưới nền thống trị đế quốc Pháp, tất cả các giai cấp, các đảng phái, các phần tử phản đế muốn giải phóng cho dân tộc, để tranh đấu chống đế quốc chiến tranh, chống xâm lược phát xít, đánh đổ đế quốc Pháp, vua chúa bổn xứ và tất cả bọn tay sai của đế quốc đòi hoà bình cơm áo, thực hiện nền độc lập hoàn toàn cho các dân tộc Đông Dương với quyền dân tộc tự quyết. Khác với Mặt trận dân chủ là sự liên hiệp các giai cấp có ít nhiều tiến bộ, các đảng phái cách mệnh với các đảng phái cải lương để đòi cải cách tiến bộ, Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế là mặt trận cách mệnh là sự liên hiệp các dân tộc, các giai cấp, các đảng phái, các phần tử có tính chất phản đế. Nếu Mặt trận dân chủ chưa làm liệt bại các xu hướng cải lương đề huề thì Mặt trận T.N.D.T.P.Đ là một mặt trận kịch liệt chống với các đảng phái, các xu hướng cải lương đề huề, làm liệt bại chúng nó hoàn toàn trong phong trào giải phóng dân tộc. Mặt trận dân chủ còn khác với Mặt trận phản đế là trong tiến trình phát triển cách mệnh sự liên quan lực lượng trong Mặt trận phản đế sẽ mau biến chuyển và biến chuyển theo một hình thức đặc biệt khác với sự biến chuyển có thể có của Mặt trận dân chủ; nói một cách khác là giai cấp tư sản nằm trong Mặt trận dân chủ trong khi đi chung với dân chúng để thực hiện yêu sách dân chủ có thể ít và chậm quay lại phản bội quyền lợi dân tộc. Trái lại, những tầng lớp tư sản có ít nhiều tính chất phản đế, nằm trong Mặt trận phản đế trên bước đường cách mệnh của dân chúng sẽ rất dễ và rất mau quay lại phản bội quyền lợi dân tộc, phá hoại phong trào giải phóng dân tộc.

Mặt trận T.N.D.T.P.Đ.Đ.D với cách mệnh tư sản dân quyền: Cuộc cách mệnh giải phóng các dân tộc của Mặt trận phản đế là một kiểu của cách mệnh tư sản dân quyền. Song đứng trong tình thế khác ít nhiều với tình thế 1930-1931, chiến lược cách mệnh tư sản dân quyền bây giờ cũng phải thay đổi ít nhiều cho hợp với tình thế mới. Cách mệnh phản đế và điền địa là hai cái mấu chốt của cách mệnh tư sản dân quyền. Không giải quyết được cách mệnh điền địa thì không giải quyết được cách mệnh phản đế. Trái lại không giải quyết được cách mệnh phản đế thì không giải quyết được cách mệnh điền địa - Cái nguyên tắc chính ấy không bao giờ thay đổi được, nhưng nó phải ứng dụng một cách khôn khéo thế nào để thực hiện được nhiệm vụ chính cốt của cách mệnh là đánh đổ đế quốc. Hiện nay tình hình có đổi mới. Đế quốc chiến tranh, khủng hoảng cùng với ách thống trị phát xít thuộc địa đã đưa vấn đề dân tộc thành một vấn đề khẩn cấp rất quan trọng. Đám đông trung tiểu địa chủ và tư sản bổn xứ cũng căm tức đế quốc. Đứng trên lập trường giải phóng dân tộc, lấy quyền lợi dân tộc làm tối cao, tất cả mọi vấn đề của cuộc cách mệnh, cả vấn đề điền địa cũng phải nhằm vào các mục đích ấy mà giải quyết. Vì vậy, trong khi chủ trương M.T.T.N.D.T.P.Đ cách mệnh tư sản dân quyền trong lúc này chỉ mới tịch ký ruộng đất của những địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc. Một điều khác nữa là mặt trận phản đế chưa đưa khẩu hiệu lập Chính phủ "Xôviết công nông binh" là hình thức chính phủ riêng của dân chúng lao động, mà đưa khẩu hiệu "Chính phủ Liên bang cộng hoà dân chủ Đông Dương" là hình thức chính phủ chung cho tất cả các tầng lớp dân chúng trong xứ và trong phong trào giải phóng dân tộc, một bộ phận của giai cấp tư sản còn có thể đi chung với dân chúng trong một giai đoạn nào. Song cuộc cách mệnh tư sản dân quyền trong giai đoạn lập Mặt trận phản đế còn và phải biến chuyển theo những hình thức mới và triệt để hơn, tuỳ theo tình thế thay đổi của mặt trận và lực lượng tương đương trong hàng ngũ. Đảng Cộng sản luôn luôn coi chính quyền Xôviết là hình thức chính phủ rộng rãi, dân chủ hơn hết và triệt để của dân chúng. Cách mệnh tư sản dân quyền còn và phải biến chuyển qua cách mệnh vô sản. Sự biến chuyển ấy hoặc hoà bình không phải võ trang bạo động nữa, chứ không phải không đổ máu, hoặc bằng bạo động tuỳ theo lực lượng vô sản và sự liên minh của nó với nông dân trong xứ cùng sức ủng hộ của vô sản thế giới.

Chiến lược của Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương: Mục đích của Mặt trận T.N.D.T.P.Đ.Đ.D là đánh đổ đế quốc Pháp, vua chúa bổn xứ và tất cả bọn tay sai của đế quốc phản bội dân tộc.

Lực lượng chính của cách mệnh là công nông dựa vào các tầng lớp trung sản thành thị, thôn quê và đồng minh trong chốc lát hoặc trung lập giai cấp tư sản bổn xứ, trung tiểu địa chủ. Mặt trận ấy phải dưới quyền chỉ huy của vô sản giai cấp.

Không nhận rõ sự cần thiết lãnh đạo của vô sản giai cấp trong cuộc cách mệnh tư sản dân quyền, một giai cấp cách mệnh triệt để hơn hết, có một Đảng mạnh nhất thế giới, một bộ tham mưu đủ tài năng, đủ kinh nghiệm, đủ hy sinh là Quốc tế Cộng sản và chi nhánh của nó là Đảng Cộng sản Đông Dương thì không rõ vai trò lãnh đạo của vô sản. Trong cuộc cách mệnh giải phóng dân tộc giai cấp vô sản cầm quyền lãnh đạo thì vấn đề điền địa mới giải quyết được một cách đúng đắn và thích hợp vì nó là một giai cấp tiên tiến nhất, cách mệnh triệt để, không có chút khí cụ sinh sản nào và không dính líu đến vấn đề đất ruộng, mà vấn đề điền địa có giải quyết được rành mạch thoả mãn và hợp thời thì cuộc cách mệnh phản đế mới thắng lợi, cách mệnh giải phóng dân tộc mới thành công.

Cuộc cách mệnh điền địa không có giai cấp vô sản chỉ huy không thể đi đến triệt để. Công nông là hai cái lực lượng chính của cách mệnh, sự đồng minh chặt chẽ của công nông là vấn đề sống chết của cách mệnh, không có sự đồng minh ấy thì cách mệnh không thể thắng lợi được.

Công nông phải đưa cao cây cờ dân tộc lên, vì quyền lợi sinh tồn của dân tộc mà sẵn sàng bắt tay với tiểu tư sản và những tầng lớp tư sản bổn xứ, trung tiểu địa chủ còn có căm tức đế quốc, vì sự căm tức ấy có thể làm cho họ có ít nhiều tinh thần chống đế quốc. Tuy nhiên bản chất của giai cấp tư sản trong thời đại này luôn luôn sợ sệt phong trào dân chúng. Trong lúc cao trào cách mệnh, họ sẽ rời hàng ngũ phản đế, vì quyền lợi ích kỷ mà bỏ con đường giải phóng dân tộc, con đường cách mệnh phản đế và sẽ nghiêng về phe đế quốc. Trong lúc ấy thì sự trung lập giai cấp tư sản bổn xứ là một điều rất cần thiết cho cách mệnh giải phóng dân tộc và cũng vì những lẽ ấy, muốn thực hiện mặt trận phản đế và bảo đảm sự thắng lợi của cách mệnh phản đế, cần phải làm liệt bại xu hướng quốc gia cải lương. Ngoài những lực lượng chính và phụ ấy, cuộc cách mệnh còn cần đến những lực lượng dự trữ gián tiếp như vô sản Pháp, vô sản thế giới, Liên Xô, dân chúng thuộc địa và bán thuộc địa.

Trong cuộc tranh đấu với dân chúng Đông Dương, đế quốc Pháp còn kéo các đế quốc khác hoặc gián tiếp hoặc trực tiếp đồng minh với nó để dẹp phong trào cách mệnh thì sự liên lạc đồng minh của các dân tộc Đông Dương với các lực lượng cách mệnh giải phóng chống đế quốc trên thế giới, với vô sản giai cấp thế giới, với thành trì cách mệnh thế giới là Liên Xô là một sự cần thiết không thể không có được, vì sự đồng tình và ủng hộ cuộc cách mệnh thế giới có thể quyết định phong trào cách mệnh trong xứ trong một phạm vi không phải nhỏ (kinh nghiệm cách mệnh Tây Ban Nha và Trung Quốc).

Cuộc cách mệnh tư sản dân quyền do Mặt trận T.N.D.T.P.Đ.Đ.D thực hiện giải quyết: 1) Đánh đổ đế quốc Pháp, vua chúa bổn xứ và tất cả bọn phản động tay sai cho đế quốc và phản bội dân tộc. 2) Đông Dương hoàn toàn độc lập (thi hành quyền dân tộc tự quyết). Không một dân tộc nào có thể giải phóng riêng rẽ vì Đông Dương ở dưới quyền thống trị duy nhất của đế quốc Pháp về mặt chính trị, kinh tế và binh bị. Không có thể một bộ phận nào thoát khỏi nền thống trị ấy mà chẳng liên quan đến cả toàn thể nền thống trị của đế quốc Pháp. Sự liên hiệp các dân tộc Đông Dương không nhất thiết bắt buộc các dân tộc phải thành lập một quốc gia duy nhất vì các dân tộc như Việt Nam, Miên, Lào xưa nay vẫn có sự độc lập. Mỗi dân tộc có quyền giải quyết vận mệnh theo ý muốn của mình, song sự tự quyết cũng không nhất định nghĩa là rời hẳn nhau ra. 3) Lập Chính phủ Liên bang Cộng hoà dân chủ Đông Dương (đã giải thích trên). 4) Đánh đuổi hải lục không quân của đế quốc Pháp ra khỏi xứ, lập quốc dân cách mệnh quân (nói đánh đuổi ra khỏi xứ mà không nói đánh đuổi trống không, vì nếu quân đội của đế quốc đã bị đánh đuổi tan nát, song vẫn còn lẩn lút trong xứ thì sự âm mưu đánh lại cách mệnh vẫn còn. Một ngày nào mà có quân lính đế quốc ở trong xứ thì Đông Dương chưa phải là hoàn toàn độc lập, những quân lính ấy bất cứ người Pháp hay người bổn xứ). 5) Quốc hữu hoá những nhà băng, các cơ quan vận tải, giao thông, các binh xưởng, các sản vật trên rừng, dưới biển và dưới đất. 6) Tịch ký và quốc hữu hoá tất cả các xí nghiệp của tư bản ngoại quốc và bọn đế quốc thực dân và tài sản của bọn phản bội dân tộc, nhà máy giao thợ thuyền quản lý. 7) Tịch ký và quốc hữu hoá đất ruộng của đế quốc thực dân, cố đạo và bọn phản bội dân tộc. Lấy đất bọn phản bội, bọn cố đạo, đất công điền, đất bỏ hoang chia cho quần chúng nông dân cày cấy. (Chính phủ chỉ lấy đất của bọn địa chủ phản bội, của cố đạo, công điền, đất bỏ hoang chia cho dân cày làm đủ ăn, nếu thiếu phải lấy thêm đất tịch ký của bọn thực dân; nhưng khi chia đất cho dân cày, chia cho bần nông và công nhân nông nghiệp ở thôn quê trước, còn nữa sẽ chia cho trung nông cho họ đủ sống). Những đồn điền tập trung sẽ lập thành đồn điền của nhà nước như Sốpkhôsơ (Sovkhoze)6), công nhân nông nghiệp ở đó sẽ làm việc ăn lương và hưởng quyền lợi như thợ thuyền. Dân cày có thể đủ sống rồi, còn bao nhiêu Chính phủ phải để về Chính phủ kinh dinh theo lối đại sinh sản để dùng vào sự lợi ích chung cho quốc gia, nếu ta hô một câu suông "Tất cả ruộng đất tịch ký đều chia cho dân cày", sau này nếu Chính phủ để lại một phần nào, bọn phản động sẽ vin vào đó làm cho dân cày bất bình Chính phủ. Đất chia dân cày, dân cày được hưởng hoa lợi, nhưng quyền sở hữu vẫn là của Chính phủ, những người được đất không được cầm bán và không ai được mua, sự chia ruộng đất tuỳ theo tay làm và miệng ăn. 8) Thi hành luật lao động ngày 8 giờ, 7 giờ cho các hầm mỏ, luật xã hội bảo hiểm hoàn toàn, tiền hưu trí cho thợ, tìm công ăn việc làm cho thợ thất nghiệp, trợ cấp thất nghiệp, công việc ngang nhau đồng lương ngang nhau, không phân biệt già trẻ, đàn ông, đàn bà. 9) Bỏ hết các thứ sưu thuế, đánh thuế luỹ tiến hoa lợi. 10) Thủ tiêu tất cả các khế ước cho vay đặt nợ. Lập nhà băng nông phố và bình dân ngân hàng. 11) Ban hành các quyền tự do dân chủ, cả quyền nghiệp đoàn, bãi công, phổ thông đầu phiếu, những người công dân từ 18 tuổi trở lên bất cứ đàn ông, đàn bà nòi giống nào đều được quyền bầu cử ứng cử. 12) Phổ thông giáo dục cưỡng bách. 13) Nam nữ bình quyền về mọi phương diện xã hội, kinh tế và chính trị. 14) Mở rộng các cuộc xã hội, y tế, cứu tế, thể thao, v.v..

CHIẾN THUẬT TUYÊN TRUYỀN

Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương là một hình thức để mà liên hiệp các dân tộc trong xứ Đông Dương dưới khẩu hiệu chung:

"Phản đế, giải phóng dân tộc". Tất nhiên tất cả các lực lượng tuyên truyền phải xoay vào cái tinh thần phản đế và nhằm đến cái mục đích đánh đổ đế quốc, đòi giải phóng dân tộc. Chính sách phản động của đế quốc Pháp ở Đông Dương trong lúc này biểu lộ mạnh mẽ nhất xung quanh cuộc đế quốc chiến tranh. Sự tuyên truyền chống đế quốc chiến tranh là chiến thuật cốt tử để đi đến sự đánh đổ đế quốc Pháp, giải phóng dân tộc. Lực lượng chống đế quốc chiến tranh không được mạnh mẽ to rộng thì phong trào phản đế không thể đi đến chỗ quyết liệt. Cái mâu thuẫn căn bản của đế quốc với thuộc địa là sự xâm chiếm đất nước, xứ sở người khác bằng vũ lực, chính sách chiến tranh của đế quốc lại lay động hầu hết các giai cấp trong xứ, chính sách ác nghiệt của đế quốc càng tăng gia thì tinh thần chống đế quốc giải phóng dân tộc càng nảy nở. Muốn đi tới đánh đổ đế quốc phải huy động dân chúng chống đế quốc chiến tranh và kêu gọi lòng ái quốc chân chính, những tập truyền tốt đẹp của dân tộc, phải biết liên lạc những quyền lợi thiết thực của các lớp nhân dân với quyền lợi dân tộc và kêu gọi thống nhất dân tộc. Cái tinh thần ái quốc và đòi thống nhất dân tộc, giải phóng dân tộc càng phát triển thì phong trào phản đế càng bồng bột. Mở rộng và nâng cao tinh thần dân tộc, làm cho mỗi người trong các giai cấp có ý thức về sự tồn vong của dân tộc và sự liên quan mật thiết của vận mạng dân tộc với lợi ích cá nhân mình; đặt quyền lợi dân tộc lên trên các quyền lợi khác, thống nhất lực lượng dân tộc là điều kiện cốt yếu để đánh đổ đế quốc Pháp. Cho nên cái cú chính của ta bây giờ là phải đập mạnh vào bọn phản bội quyền lợi dân tộc làm tay sai cho đế quốc Pháp, hô hào tham gia chiến tranh, bênh vực đế quốc Pháp và bọn chia rẽ lực lượng dân tộc.

Không đánh tan sức tuyên truyền phản động của bọn tay sai đế quốc Pháp, bọn Pháp - Việt đề huề, bọn quốc gia cải lương, bọn thân Nhật, không gỡ mặt nạ bọn tờrốtkít và bọn khoác áo thầy tu, đội lốt tôn giáo làm đầy tớ đế quốc trong dân chúng thì phong trào phản đế sẽ không phát triển được.

Phong trào chống đế quốc chiến tranh, trực tiếp chống đế quốc Pháp, gián tiếp chống chung cả chế độ đế quốc chủ nghĩa, tuyên truyền dân chúng Đông Dương nhận thấy sự can hệ, liên lạc phong trào Đông Dương với quốc tế, đánh tan cái quan niệm quốc gia hẹp hòi thì sự giải phóng dân tộc hoàn toàn khỏi ách đế quốc mới có thể có. Đứng về quan niệm giai cấp, Mặt trận thống nhất phản đế không những có ý nghĩa thống nhất dân tộc mà còn có ý nghĩa là liên hiệp các giai cấp trong dân tộc bị áp bức đánh đổ chế độ đế quốc là chế độ tàn ác thối nát của giai cấp tư bản tài chính, giai cấp đương làm chủ nhơn ông trên thế giới tư bản. Không vạch rõ cái tính chất liên hiệp giai cấp của mặt trận phản đế trong những điều kiện nhất định, thái độ và vị trí của một giai cấp nằm trong Mặt trận thì Mặt trận sẽ là lợi khí cho giai cấp tư sản đòi thi hành những quyền lợi ích kỷ hoặc sẽ đi vào con đường quốc gia hẹp hòi của giai cấp tư sản, sẽ không thi hành được nhiệm vụ cách mệnh của mình. Nếu sự tuyên truyền vận động lập Mặt trận phản đế không có in cái dấu vô sản (empreinte prolétarienne), đa số giai cấp vô sản không tỏ rõ được con đường chính trị đúng của mình, giai cấp vô sản không cầm được bá quyền trong Mặt trận, lực lượng chỉ huy của Mặt trận yếu quyết thì cách mệnh tư sản dân quyền không giải được nhiệm vụ theo phương pháp vô sản. Phải làm cho giai cấp bị bóc lột nhận rõ trong thời kỳ này, quyền lợi dân tộc là quyền lợi cao nhất, nhưng không thể che giấu những quyền lợi mâu thuẫn của các giai cấp, cần phải làm cho vô sản và quần chúng lao động nhận rõ bước đường giải phóng cuối cùng của họ là bước đường diệt vong của giai cấp bóc lột. Sự tuyên truyền giải phóng dân tộc không thể có hiệu quả nếu cái khởi điểm của nó không bắt đầu từ các quyền lợi thiết thực hằng ngày mà nhất là trong lúc chiến tranh này, những quyền lợi ấy lại bị giày vò dữ tợn. Nếu không làm cho dân chúng tin vào sức mạnh của họ, vào năng lực cách mệnh của họ, sự thắng lợi nhất định sẽ về tay họ thì không thể có phong trào cách mệnh giải phóng dân tộc và cách mệnh không thể thành công.

Tuyên truyền cổ động phải có phương pháp, phải hợp sát hoàn cảnh, phải biết nhẫn nại, phải tin chắc rằng quần chúng đang còn bị đế quốc, tư bản, địa chủ áp bức bóc lột thì sự giác ngộ của quần chúng chống sự áp bức bóc lột, chóng hay chầy nhất định phải có. Phải biết tuyên truyền chống lại sự tuyên truyền của đế quốc và bè lũ tay sai của nó, vạch rõ những mưu mô lừa gạt láo xược của nó. Mấy năm gần đây sự tuyên truyền của Đảng chỉ nhờ báo chí, sách vở công khai, còn sự tuyên truyền bằng miệng rất ít được chú ý. Bây giờ sách vở công khai không có thì phải dùng sách báo bí mật, ra truyền đơn, biểu ngữ, tranh vẽ, thi ca và tổ chức những đội quân tuyên truyền miệng. Tuyên truyền miệng có một sự ích lợi là hiểu rõ quần chúng, để đưa quần chúng vào tổ chức. Nhưng cái cốt yếu là phải ra một tờ báo bí mật. Sự tuyên truyền các dân tộc khác như Miên, Lào, các dân tộc thiểu số như Thổ, Rađê, v.v., trong lúc này là rất quan hệ vì bọn đế quốc đương ra sức thực hành chính sách chia rẽ dân tộc, lấy dân tộc này đàn áp dân tộc kia.

Phải có những đội chuyên môn tuyên truyền các dân tộc, phải học tiếng của các dân tộc ấy, phải tìm ra các sách báo bằng chữ của họ để tuyên truyền cổ động họ cho mau lẹ.

TỔ CHỨC QUẦN CHÚNG

Nguyên tắc tổ chức: Một đội quân có thao luyện, có tổ chức, có chỉ huy thống nhất thì sức mạnh gấp trăm gấp ngàn một đám người ô hợp dù đám người này trăm ngàn lần đông hơn. Tổ chức là cái khí giới sắc bén duy nhất của những người bị áp bức bóc lột chống bọn áp bức bóc lột. Vì vậy chỉ tuyên truyền giác ngộ dân chúng chưa đủ, cần phải biết kết hợp họ thành đoàn, thành ngũ. Tổ chức quần chúng tuỳ theo điều kiện, càng có thể có tính chất rộng rãi và giản đơn bao nhiêu càng hay, để thâu phục được quảng đại quần chúng. Mặc dầu tình hình chính trị nghiêm trọng và dưới chính quyền phát xít quân nhân thuộc địa, ta phải biết hết sức khôn khéo lợi dụng những sự có thể công khai và bán công khai để kéo những đám quần chúng hậu tiến và che đậy cho những tổ chức bí mật. Nếu không biết lợi dụng những tổ chức tương tế ái hữu, phường, hội, hiếu hỷ, văn hoá, thể thao, v.v., để thâu phục quảng đại quần chúng hậu tiến tức là khuynh hướng cô độc, tổ chức quần chúng không phát triển rộng được. Nhưng trong tình hình nghiêm trọng và khủng bố này, trong lúc hiệu triệu quần chúng ra làm cách mệnh giải phóng dân tộc, nhiệm vụ chính của Đảng trong sự tổ chức quần chúng là thành lập những hội bí mật như: Công hội, Nông hội, Phản đế hội, v.v., và nếu không chú ý củng cố và khoách trương các tổ chức ấy tức là thủ tiêu cách mệnh.

Hình thức tổ chức: Hình thức tổ chức phải tuỳ theo trình độ quần chúng mà tổ chức hoặc tương tế bảo an hoặc phản chiến, phản đế, v.v..

Tương tế: Tuỳ theo điều kiện hoặc xin phép hoặc không xin phép tiếp tục tổ chức hoặc khoách trương những hội tương tế, phường hội, đám ma, lợp nhà, làm rẫy, v.v., để giúp đỡ lẫn nhau. Nhất là lúc này vì những sự bắt lính, sưu thuế nặng, sung công làm cho tình cảnh quần chúng rất nguy ngập thì sự giúp đỡ càng cần. Điều luôn luôn chú ý là phải giác ngộ quần chúng cho họ nhận rõ những sự đói khổ, tai nạn đau đớn mà họ đương phải chịu đựng đều do đế quốc chiến tranh gây ra để họ dần dần có ý thức chống đế quốc chiến tranh, chống đế quốc chủ nghĩa mà gia nhập vào những tổ chức phản chiến, phản đế.

Hội bảo an: Là một hình thức tương tế đặc biệt trong thời kỳ chiến tranh để bảo vệ tài sản tính mạng và giúp đỡ nhau về những tai nạn xảy ra vì chiến tranh. Nó lại có ý nghĩa hay, làm cho quần chúng ngày đêm nhớ đến những tai nạn ghê tởm của chiến tranh và dần dần có ý thức chống chiến tranh, chống đế quốc. Hội bảo an, là một hình thức hết sức thích hợp trong lúc này, ta phải hết sức khoách trương nó. Tuy nhiên ở những nơi quần chúng còn rất hậu tiến chưa nhận rõ ý nghĩa của nó thì không nên câu nệ, cứ dùng những hình thức tương tế thông thường như trên miễn là sự tuyên truyền phải xoay tới đó. Ngoài ra cứ mở rộng những tổ chức văn hoá như hội truyền bá quốc ngữ, lớp dạy tối, câu lạc bộ, hội thể thao. Tổ chức những uỷ ban chống sinh hoạt đắt đỏ để chống nạn đầu cơ, chống phá giá đồng bạc. Uỷ ban này có thể tổ chức bán công khai, cử đoàn đại biểu đến yêu cầu nhà cầm quyền can thiệp. Hội phản chiến chống đế quốc chiến tranh và tất cả những tai hại của nó, chống sung công tính mạng, tài sản, đòi bồi thường trợ cấp, đòi hoà bình. Hội phản đế cho tất cả những lực lượng, những phần tử có tinh thần phản đế để đánh đổ đế quốc, giải phóng dân tộc. Đó là những hình thức tổ chức chung cho các lớp nhân dân. Ta thấy những hội tương tế, bảo an, có thể tổ chức theo hình thức công khai và bán công khai, còn những hội phản chiến, phản đế phải tổ chức bí mật. Một điều cần luôn luôn chú ý là trong tất cả các tổ chức quần chúng dù tên gì, hình thức gì, phải do từ quyền lợi thiết thực mà giác ngộ quần chúng có óc chống chiến tranh là tiêu diệt tận cội rễ chiến tranh là đánh đế quốc, tranh lấy độc lập giải phóng. Riêng về công nhân cần khoách trương những uỷ ban công xưởng là một uỷ ban đại biểu được cả thợ thuyền trong xí nghiệp tín nhiệm bầu lên để giao thiệp cùng chủ, bênh vực quyền lợi lặt vặt hằng ngày cho thợ. Phải tổ chức các công hội là tổ chức của thợ thuyền tranh đấu chống tư bản đòi cải thiện sinh hoạt, tự do nghiệp đoàn, xã hội bảo hiểm, tranh đấu chống đế quốc chiến tranh để đi đến thủ tiêu hẳn chiến tranh và sự bóc lột nghĩa là thủ tiêu đế quốc chủ nghĩa xây dựng xã hội không giai cấp, không người bóc lột người. Công hội phải tổ chức bí mật và đi đến hệ thống toàn quốc, phải nằm trong các ái hữu tương tế hoặc các tổ chức biến tướng phổ thông khác để dễ bề che đậy và để đưa quảng đại quần chúng ra tranh đấu.

Nông hội: Phải tổ chức các Nông hội để tranh đấu chống địa tô cao, chống sưu cao thuế nặng, chống nợ cao lời, chống đế quốc chiến tranh, đòi hoà bình, đòi có đất cày cấy, đòi lập nông phố ngân hàng, v.v. Nông hội là tổ chức bí mật và đi đến hệ thống toàn tỉnh. Trong binh lính vì kỷ luật nghiêm khắc không thể tổ chức thành hội, nhưng có thể khôn khéo thành lập những uỷ ban hai hay ba người một, để tuyên truyền chống đế quốc chiến tranh, chống chở binh linh đi ngoại quốc, đòi đưa lính ngoại quốc về xứ, lính xứ nào về xứ ấy để giữ gìn tài sản tính mạng cho đồng bào xứ sở mình, vận động đòi cải thiện sinh hoạt và đòi trợ cấp tử tế cho gia đình. Chú ý: Những uỷ ban ấy phải hoạt động khéo léo và không cần điều lệ chương trình gì hết cả.

Vận động thanh niên tổ chức rathanh niên phản chiến thanh niên phản đế để tranh đấu chống đế quốc chiến tranh, đòi hoà bình, đánh đổ đế quốc, giải phóng dân tộc, đòi việc làm. Thanh niên phản chiến và thanh niên phản đế tổ chức bí mật và trong đó còn tổ chức những nhóm thanh niên cộng sản, không tổ chức thành hệ thống mà do Đảng bộ tương đương chỉ huy.

Ngoài ra cứ mở rộng các phạm vi văn hoá, thể thao, học sinh hội (theo công khai và bán công khai) để đòi mở thêm trường học, bớt học phí, bỏ tiền nộp đi thi, chống sự bớt thầy giáo và đóng cửa trường, v.v..

Vận động phụ nữ tổ chức các hội phụ nữ phản chiến phản đế, các hội cứu tế bảo an, để giúp đỡ nhau nhất là giúp đỡ những tai nạn do chiến tranh gây ra, đòi trợ cấp đầy đủ cho vợ con lính, đòi thả chồng con, chống đế quốc chiến tranh, đòi hoà bình. Ngoài ra cần phải khôn khéo chui vào làm việc trong hội quần chúng của chính phủ hoặc bọn tư sản địa chủ phản động tổ chức ra như đạo Cao đài, Phật học, Hướng đạo đoàn, v.v.. Phải căn cứ vào những điều lệ, chương trình hoặc những lời tuyên bố phỉnh phờ của bọn lãnh tụ mà thúc giục quần chúng đòi thi hành và vạch mặt nạ bọn lãnh tụ, đồng thời giác ngộ quần chúng chống đế quốc chiến tranh và chống đế quốc.

Muốn thực hiện Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương cần phải vận động tất cả các đảng phái cách mệnh, các hội quần chúng liên hiệp lại chống đế quốc chiến tranh thống nhất hành động đánh đổ đế quốc Pháp. Tất cả các đảng phái phản đế cùng các công hội, nông hội, phản đế hội, phụ nữ phản chiến, phản đế phải thực hiện sự liên hiệp hành động lập thành phản chiến đồng minh hội, phản đế đồng minh hội. Trong lúc cần phải làm thức dậy và đề cao cái tinh thần dân tộc chính đáng, trong lúc mà nhiệm vụ trung tâm là thực hiện sự thống nhất tất cả các lực lượng dân tộc để tranh lấy độc lập giải phóng, mà các đảng phái quốc gia cách mệnh lại không có hoạt động, không có thế lực, người cộng sản có thể và cần tổ chức ra Liên đoàn giải phóng dân tộc Việt Nam phản đế hội, Việt Nam nhất thống dân tộc hội, tập hợp tất cả các đoàn thể lẫn cá nhân muốn tranh đấu cho sự sinh tồn độc lập của dân tộc để làm nền tảng đặng dễ dàng hiệu triệu sự liên minh của tất cả đảng phái, các xu hướng phản đế thành lập: Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương.

TRANH ĐẤU

Cuộc cách mệnh giải phóng dân tộc là một hình thức cao nhất của phong trào tranh đấu, của Mặt trận phản đế Đông Dương chống đế quốc Pháp và bè lũ tay sai của nó. Hình thức tranh đấu cao nhất ấy là kết quả tất yếu của những phong trào tranh đấu của quần chúng đòi quyền lợi thiết thực chống những tai hại của đế quốc chiến tranh. Cuộc chiến tranh đưa lại cho dân chúng những sự bóc lột dã man, những chính sách tàn bạo, một phong trào to rộng, mạnh mẽ của dân chúng sẽ nổ ra và đã bắt đầu nổ ra rồi.

Đứng trước tình thế ấy, Đảng phải cương quyết đứng ra lãnh đạo phong trào tranh đấu, khuếch trương phong trào thật mạnh mẽ và to rộng thêm lên. Phải biết xoay tất cả phong trào tranh đấu lẻ tẻ vào cuộc tranh đấu chung, phản đối đế quốc chiến tranh, chống đế quốc Pháp và bè lũ, dự bị những điều kiện bước tới bạo động làm cách mệnh giải phóng dân tộc. Trong sự sinh hoạt hằng ngày của các giai cấp bổn xứ, tất nhiên không tránh khỏi sự xung đột quyền lợi. Những cuộc tranh đấu của công nhân với tư bản bổn xứ, nông dân với phú nông, địa chủ tất nhiên phải có, song đứng trên lập trường cách mệnh giải phóng dân tộc, sự điều hoà những cuộc tranh đấu của những giai cấp người bổn xứ đưa nó vào phong trào đấu tranh chung của dân tộc là nhiệm vụ cốt tử của người lãnh đạo. Song không ngó ngàng đếm xỉa đến quyền lợi hằng ngày của quần chúng lao động, không tìm cách bênh vực làm cho họ đủ no, thì năng lực cách mệnh của quần chúng sẽ giảm đi. Nhưng nếu căng thẳng các cuộc tranh đấu ấy, thì sự liên hiệp các giai cấp bổn xứ sẽ không thành, khẩu hiệu "Quyền lợi dân tộc cao hơn hết" sẽ không thực hiện được. Phải làm cho giai cấp tư bản, địa chủ bổn xứ thấy sự cần thiết vì tranh đấu chống đế quốc, giải phóng dân tộc mà nhượng bộ một ít quyền lợi chính đáng cho lao động, không thể vin vào quyền lợi dân tộc mà thẳng tay bóc lột dân chúng. Và cũng phải làm cho giai cấp lao động nhận thấy những cuộc tranh đấu cần dùng chính sách điều hoà những yêu sách phải cho thích hợp, đừng đòi quá cao, để cho sự liên minh của các giai cấp bổn xứ có thể thực hiện được với trong một đôi tầng lớp nào của giai cấp tư sản. Sự điều hoà ấy không có ý nghĩa gì là đi vào con đường "giai cấp thoả hiệp", vì nó có mục đích là tranh đấu chống đế quốc Pháp, chống giai cấp tư bản tài chính, giai cấp mạnh mẽ nhất và tàn bạo nhất của thế giới tư bản và bọn vua chúa, đại biểu cho giai cấp phong kiến bổn xứ. Vả lại Đảng không bỏ những cuộc tranh đấu hằng ngày của các giai cấp người bổn xứ, nhưng phải điều khiển và theo những phương pháp, những hình thức êm dịu mềm mỏng để cho sự đụng chạm của hai giai cấp tranh đấu không đến nỗi gay gắt, xô đẩy họ thành thù địch nhau hẳn và đi đến kết quả tai hại chia rẽ các lực lượng dân tộc tranh đấu chống đế quốc. Trong tình thế chiến tranh nghiêm trọng và khủng bố này, điều khiển một cuộc tranh đấu tất nhiên phải gặp nhiều sự khó khăn, sự tuyên truyền vận động phải chín chắn sâu rộng, tổ chức phải kiên cố mềm mỏng, ban chỉ huy phải cương quyết, phải mau lẹ, nhận thấy những lúc phải tấn công, lúc cần thiết phải biết lùi ngay. Đội tự vệ phải to rộng, đủ dũng cảm và điềm tĩnh, khôn khéo và hy sinh bảo vệ quần chúng. Quần chúng tranh đấu nhất định phải chịu một mệnh lệnh, một mà thôi, phải hết sức giữ kỷ luật, ráng một bước ra ngoài vòng kỷ luật sẽ bị sa vào cái bẫy khiêu khích và manh động, phong trào tranh đấu sẽ bị phá hoại một cách rất tàn nhẫn và đau đớn. Tranh đấu chưa kịp thời, tranh đấu non, tranh đấu không có phương pháp, có tính chất manh động trong thì giờ nghiêm trọng này là những cơ hội cho quân thù khủng bố dữ dội mà đập nát phong trào, nói tóm lại tranh đấu phải tổ chức, phải có phương pháp và chuẩn bị cho chu đáo. Phong trào tranh đấu càng mạnh thì sự khủng bố càng tăng. Thụt lùi trước sự khủng bố cho rằng trong thời kỳ chiến tranh đưa quần chúng ra tranh đấu là đưa quần chúng vào chỗ chết, những tư tưởng sai lầm đầu hàng đế quốc ấy sẽ làm ngăn trở phong trào tranh đấu và làm cho quần chúng ngày càng xa Đảng, sẽ thủ tiêu cách mệnh. Nói đến tranh đấu phải nói đến sự đàn áp, bắt bớ, tù tội, có khi bắn giết nữa. Sự giải phóng của dân tộc, của quần chúng lao động không thể có ngoài vòng tranh đấu, ngoài vòng cách mệnh, mà tranh đấu cách mệnh thì tù đày, chém giết là sự tự nhiên. Thấy khủng bố mà dẹp phong trào là bỏ con đường cách mệnh, cam tâm làm nô lệ. Song phải hết sức tránh những cuộc tranh đấu non, tranh đấu vô phương pháp, vô chuẩn bị vì như thế tức là đưa quần chúng đến chỗ tự sát uổng mạng. Đừng để cho phong trào tranh đấu chênh lệch nhau quá, phải làm cho phong trào tranh đấu công nhân lãnh đạo được phong trào nông dân và toàn thể phong trào dân tộc, phải biết liên hiệp các phong trào tranh đấu, biết tuyên truyền sự liên hiệp của binh lính với quần chúng tranh đấu, tranh đấu phải hợp thời, đủ điều kiện là những điều cần thiết để làm cho những phong trào tranh đấu bớt bị khủng bố và ảnh hưởng tranh đấu càng lan rộng.

NHỮNG KHẨU HIỆU TRANH ĐẤU

1. Chống chính sách sung công, trả lại những vật liệu đã sung công, trả đủ tiền cho những vật đã sung công theo thời giá.

2. Chống đem lính Đông Dương ra ngoại quốc, đem lính Đông Dương ở ngoại quốc về, lính xứ nào về xứ nấy.

3. Dân chủ hoá chế độ đi lính và đi lính không quá hạn 12 tháng. Cải thiện sinh hoạt cho binh lính. Trợ cấp cho gia đình binh lính sống đầy đủ.

4. Chống bắt phu, bắt canh, đi phu phải trả tiền theo tiền lương thường.

5. Chống thêm thuế mới, tăng thuế cũ, bỏ hẳn thuế cho dân nghèo.

6. Chống các thứ quốc trái, công thải, lạc quyên.

7. Chống nạn đắt đỏ, chống lên giá hàng, chống nạn đầu cơ mua rẻ bán đắt.

8. Chống quan thuế nặng nề, độc quyền tư bản, chống phá giá đồng bạc. Đồng bạc Đông Dương độc lập với đồng Phờrăng.

9. Chống bớt lương, tăng giờ, thải người.

10. Trợ cấp thất nghiệp, tìm việc làm cho thợ thất nghiệp, cho thanh niên thất nghiệp.

11. Tự do nghiệp đoàn, tự do bãi công.

12. Chống bọn ăn cướp đất, trả đất lại cho dân cày, trả công điền lại cho dân, chia đất hoang và giúp khí cụ tiền bạc cho dân cày cấy, chống địa tô cao, chống cho vay nặng lời, lập nhà băng nông phố, ngân hàng bình dân.

13. Chống nạn thất học, mở thêm các trường chuyên môn.

14. Cho dân chúng tổ chức phòng ngừa chiến tranh (tổ chức tự vệ dân đoàn, uỷ ban phòng thủ, phát mặt nạ, đào hầm cho dân núp).

15. Ban hành tự do dân chủ.

16. Chống khủng bố, thả tù chính trị.

17. Chống đế quốc chiến tranh, ủng hộ chiến tranh giải phóng, ủng hộ chính sách hoà bình của Liên Xô.

ĐẢNG

Phải thống nhất ý chí và hành động

Từ ba năm nay, Đảng đã dần dần khôi phục được hệ thống toàn quốc ở ba xứ Trung, Nam, Bắc; con đường chính trị chung đại khái thống nhất, nhưng sự thực hành có nhiều chỗ không thống nhất. Sự liên lạc giữa các đảng bộ từ Trung ương đến Xứ uỷ, Xứ uỷ đến Tỉnh uỷ, đến các chi bộ không được mật thiết, địa phương nào chỉ biết lo địa phương ấy, ý chí và hành động của Đảng chưa được thống nhất, sự chỉ huy của Đảng không có thống nhất. Trong thời giờ nghiêm trọng này, trong lúc phong trào cách mệnh đương sắp phát triển hết sức to rộng và sắp bước vào thời kỳ quyết liệt thì Đảng ta nhất định phải thống nhất ý chí lại thành một ý chí duy nhất, một mà thôi. Hành động nhất định phải thống nhất trên dưới khăng khít như một phải theo nguyên tắc, phải có kỷ luật, các đồng chí từ Trung ương đến chi bộ phải liên lạc mật thiết, kết chặt lại như một người, như một tảng đá. Đừng tưởng tượng sự thống nhất của Đảng, uy tín của Đảng như một vật thần bí hoặc tự nhiên vẫn có. Sự thống nhất của Đảng tiền phong cách mệnh phải dựa trên lý luận cách mệnh tiền phong của chủ nghĩa Mác - Lênin, phải xây dựng trên những nguyên tắc Bônsơvích. Sự thống nhất ấy là một sự thống nhất của một Đảng chiến đấu cách mệnh, tổ chức theo một kiểu mẫu mới, rèn luyện trong lò đúc của Lênin, Xtalin. Sự thống nhất ý chí và hành động của Đảng buộc phải có ý chí giác ngộ của toàn thể đảng viên, chớ không phải là nhắm mắt phục tùng. Không có một con đường chính trị đúng đắn và những khẩu hiệu chiến thuật xác thực, cơ quan chỉ huy không tiêu biểu được ý thống nhất của Đảng, không biết tuỳ theo điều thi hành nguyên tắc tổ chức dân chủ tập trung cho tất cả các đảng viên đều được quyền thảo luận con đường chính trị của Đảng, đặng nhận định rõ ràng mà thực hành theo nghị quyết đa số, không liên lạc mật thiết với quần chúng đảng viên và để ý học tập trong quần chúng, không tỏ rõ tinh thần cương quyết hy sinh tận tuỵ với công cuộc cách mệnh thì không thể nói đến thống nhất, uy tín và kỷ luật sắt được. Không tranh đấu chống những cách làm việc cô độc biệt phái, chống cái đầu óc địa phương hẹp hòi, chống nạn tự túc tự mãn, chống cái bệnh khoe khoang cộng sản (Vanité communiste) chỉ lặp lại những câu lý thuyết suông như con vẹt học nói mà không để ý suy xét tìm tòi những phương pháp thực hành sát với hoàn cảnh cụ thể, không tranh đấu chống nạn bao biện và cái đầu óc miệt thị năng lực và sáng kiến của toàn thể đảng viên, mà chỉ nhìn Đảng trong một, hai người hiểu biết, không tranh đấu chống nạn quan liêu hủ bại, chống những hành động vô nguyên tắc, vô kỷ luật thì không thể có ý chí và hành động thống nhất được.

Phải mật thiết liên lạc với quần chúng: Đảng phải liên lạc mật thiết với quần chúng, phải lắng tai nghe tiếng nói của quần chúng, hiểu rõ nguyện vọng của họ, đề ra những yêu cầu thiết thực với họ, trộn lẫn với họ đến một phạm vi nào, không phải để theo đuôi họ mà để lãnh đạo họ, không phải để hạ mình xuống trình độ họ mà để đi trước họ một bước dìu dắt họ lên. Đảng không những chỉ đạo quần chúng, mà cũng phải học hỏi trong quần chúng nữa. Phải xem xét coi những khẩu hiệu của mình có được quần chúng hiểu rõ và hưởng ứng không, phải tìm tòi những nguyên nhân thất bại để sửa đổi, để gần gũi quần chúng, để lôi kéo họ.

Hiện nay tuy Đảng đã có cơ sở vững trong quần chúng, ảnh hưởng Đảng ngày càng lan rộng, song đừng mộng tưởng rằng Đảng đã có cơ sở vững vàng trong quảng đại quần chúng. Những tầng lớp dân chúng rất đông đảo, rất lớn lao còn giữ thái độ bàng quan lãnh đạm hoặc bi quan rụt rè. Chúng ta còn phải nỗ lực tranh đấu để thâu phục những lớp quảng đại quần chúng ấy. Đảng ta vẫn có tính chất quần chúng và đã lãnh đạo quần chúng tranh đấu, song còn phải nỗ lực tranh đấu để trở nên một Đảng chân chính của quần chúng.

Phải có vũ trang lý luận cách mệnh: "Không có lý luận cách mệnh, không có vận động cách mệnh", lời giáo huấn ấy của Lênin chúng ta còn lãng quên nhiều. Chúng ta không cần những bọn lý luận suông, ngồi trích ra hàng tràng câu nói của Mác, Ăngghen, Lênin, Xtalin như tín đồ đọc kinh thánh mà không hiểu rõ tinh tuý, không biết cách ứng dụng cho hợp thời, hợp cảnh. Nhưng chúng ta là đội quân cách mệnh cần phải có vũ trang lý luận cách mệnh, cần phải hiểu rõ những luật vận động và phát triển của xã hội, hiểu rõ đường lối mình đi, biết tiến, biết thoái, thì mới có thể làm tròn vai trò lãnh đạo. Phải tranh đấu chống đầu óc thực hành hẹp hòi, cho rằng cách mệnh chỉ có thực hành không cần lý luận, chống cái xu hướng của một vài đồng chí hễ thấy người nào có nghiên cứu ít nhiều lý luận cách mệnh thì cho là "lý luận", là "trí thức", đồng thời cũng phải đập cho tiêu cái lối làm việc của một vài người cứ ra mệnh lệnh bắt các đồng chí hạ cấp cắm cổ thực hành mà không biết tìm cách nâng cao trình độ chính trị và lý luận của các đồng chí trong lúc công tác, không biết rèn đúc cán bộ trong trường tranh đấu cách mệnh. Phải xuất bản sách báo huấn luyện, phải mở những lớp huấn luyện, phải huấn luyện lý luận cách mệnh cho đảng viên trong sự thực hành cách mệnh, phải kích thích sự ham muốn học tập nghiên cứu và giúp sức cho đảng viên có thể tự nghiên cứu. Nhất là sau mấy năm vận động mặt trận dân chủ vừa qua, sự tuyên truyền chỉ dùng báo chí công khai, sách báo huấn luyện không có, trình độ chính trị và lý luận của đảng viên nói chung rất thấp kém, nhiều đảng viên chỉ biết sơ qua chính sách mặt trận dân chủ đòi tự do cải cách, còn những mục đích cách mệnh, đường lối cách mệnh, nhiệm vụ cách mệnh ra sao không hiểu gì hết, nên sự huấn luyện lại càng cần cấp lúc này hơn lúc nào hết. Đảng phải dịch và xuất bản những tác phẩm quan trọng của chủ nghĩa Mác, Ăngghen, Lênin, Xtalin, nhất là cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Nga để huấn luyện đảng viên và những cán bộ không Đảng.

Phải biết lựa chọn cán bộ mới: Sau khi đã có con đường chính trị đúng rồi thì sự lựa chọn cán bộ để thực hành là điều rất quan hệ, nó quyết định sự thành bại. Thêm nữa phong trào cách mệnh ngày càng phát triển thì càng cần thêm cán bộ mới để chỉ huy; thêm nữa những cán bộ cũ hoặc bị khủng bố tù đày hoặc vì không theo kịp phong trào trở nên bất lực, truỵ lạc, nên phải có cán bộ mới thay thế. Cho nên vấn đề lựa chọn và đào tạo cán bộ là vấn đề đặc biệt quan trọng. Muốn lựa chọn cán bộ phải căn cứ vào công tác. Những người hăng hái và hy sinh, biết cách làm việc và giải quyết các vấn đề sát với hoàn cảnh, sát với quần chúng, biết cách cổ động và thuyết phục quần chúng, được quần chúng tín nhiệm là những cán bộ rất đắc lực. Đừng thấy người đó chưa có nghiên cứu nhiều chủ nghĩa Mác, hoặc còn mới vô Đảng, còn tuổi trẻ mà miệt thị cho rằng không thể trở nên cán bộ lý luận cách mệnh, vì kinh nghiệm sẽ do sự thực hành và học tập mà có. Những cán bộ cũ phải do trong công tác hằng ngày, bày vẽ và giúp sức cho những cán bộ mới, phải giúp sức cho họ nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin để đào tạo họ thành những cán bộ có năng lực và phải tuỳ theo năng lực sở trường của mỗi người mà phân công. Đó là nói cán bộ thường, còn cán bộ chỉ huy, những người phụ trách các cơ quan thượng cấp thì tất nhiên có năng lực hơn nhiều. Lựa cán bộ chỉ huy không thể chỉ căn cứ vào điều kiện trung thành, sự trung thành là điều tất nhiên phải có rồi, nhưng ngoài ra người cán bộ chỉ huy phải có sự nhận thức chính trị đúng đắn những kinh nghiệm công tác đến một trình độ nào đó. Lại phải có năng lực phân tích tình hình một cách đúng, giải quyết vấn đề một cách mau lẹ, gặp sự nguy cấp khó khăn không hoảng sợ bối rối, phải có năng lực tổ chức, biết cách xếp đặt công việc và lựa chọn người phụ trách. Phải được quần chúng đảng viên tín phục và có năng lực thuyết phục, lôi kéo các đồng chí theo mình. Trừ những điều kiện đặc biệt phải dùng lối chỉ định ra, việc lựa chọn cán bộ phải bằng cách tuyển cử theo lối dân chủ tập trung. Trong lúc này vấn đề cán bộ đối với Đảng ta rất khẩn cấp. Nếu chúng ta không đủ sức chú ý lựa chọn và đào tạo cán bộ thì vận động cách mệnh không thể nào phát triển được. Trong khi lựa chọn cán bộ cần chú ý đưa đa số vô sản vào các cơ quan chỉ huy để dễ dàng bảo đảm cho sự đi đúng con đường cách mệnh vô sản.

Phải lập tức khôi phục hệ thống Trung - Nam - Bắc và làm cho các đảng bộ từ chi bộ đến Trung ương mật thiết liên lạc: Vì sự khủng bố mới đây, các đảng bộ bị phá hoại ít nhiều, sự liên lạc của Trung ương với các Xứ uỷ trước kia đã thưa thớt ngày nay lại càng rời rạc; sự liên lạc của các Xứ uỷ với Tỉnh uỷ, Tỉnh uỷ với các quận huyện, các chi bộ nhiều nơi cũng bị đình trệ. Vậy tìm cách khôi phục hệ thống Trung - Nam - Bắc và phải làm cho sự liên lạc từ chi bộ đến Trung ương được khăng khít mật thiết. Nhất là trong lúc này Đảng thay đổi chính sách, phải làm cho chính sách ấy được phổ cập trong toàn Đảng, toàn thể đảng viên đều tham gia thảo luận để cho Đảng có thể thực sự tiêu biểu ý chí và hành động thống nhất của toàn thể đảng viên. Và trong lúc tình thế nghiêm trọng này phong trào cách mệnh sẽ tiến với một tốc độ không ngờ, nếu các tổ chức của Đảng từ trên chí dưới không liên lạc mật thiết như một người thì Đảng không thể chỉ huy phong trào một cách đúng đắn được. Phong trào cách mệnh quần chúng sẽ vì đó mà yếu ớt đi, cách mệnh sẽ không thực hiện được. Đảng ta sẽ mang tội với vô sản, với dân tộc, với cách mệnh vô sản trên toàn thế giới.

Phải khuếch trương và củng cố cơ sở Đảng ở các thành thị, các trung tâm điểm kỹ nghệ và các hầm mỏ, đồn điền: Một trong những điểm rất quan trọng của Đảng ta mà xưa nay vẫn nhiều lần nhắc đến, song vẫn chưa chinh phục được là cơ sở của Đảng ở những nơi công nhân tập trung ở các thành thị, các hầm mỏ, các đồn điền, rất yếu hoặc không có. Mấy thành phố lớn có công nhân tập trung nhiều Sài Gòn, Chợ Lớn, Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vinh có nhiều xí nghiệp Đảng ta chưa có cơ sở, cũng có chỗ có cơ sở nhưng còn rất yếu. Tuy đã chú ý phái người đi vận động các hầm mỏ, các đồn điền cao su, nhưng vì chỉ có một vài người đảm đương, có khi năng lực còn kém, kinh nghiệm ít, lại không được các ban xứ uỷ thiết thực giúp sức chỉ dẫn, nên vẫn chưa có được thành tích gì mấy, hoặc có khi làm nửa chừng rồi bỏ dở. Bây giờ phải đập cho tiêu cái óc gặp đâu làm đó và dễ làm khó bỏ đi. Phải tuỳ theo hoàn cảnh mà nghiên cứu những phương pháp cụ thể mà vận động cho được. Xứ uỷ Bắc Kỳ phải đặc biệt chú ý đến các hầm mỏ, Xứ uỷ Trung Kỳ đến các nơi công nhân tập trung như Trường Thi, Bến Thuỷ, Tourane, v.v.. Xứ uỷ Nam Kỳ đến thành phố Sài Gòn, Chợ Lớn và các đồn điền cao su, phải chọn người có năng lực, có kinh nghiệm công nhân vận động và có chí nhẫn nại cương quyết để phụ trách và phải thiết thực giúp đỡ cho họ về mọi phương diện. Nếu không gây được cơ sở rộng rãi, vững vàng ở những nơi công nhân tập trung thì không thể nói đến vai trò lãnh đạo thực tế của vô sản giai cấp trong công cuộc cách mệnh.

Phải chú ý gây dựng cơ sở Miên, Lào và tổ chức những Đảng bộ tự trị của các dân tộc thiểu số: Ta đã thấy vận mạng và sự giải phóng của các dân tộc Đông Dương có liên quan mật thiết thì ta phải đặc biệt chú ý sự vận động các dân tộc Miên, Lào và các dân tộc thiểu số; phải nghiên cứu những phương pháp cụ thể để thực hành nhiệm vụ ấy, đừng có nói rồi bỏ đấy như trước. Bây giờ ban Trung ương cũng như Xứ uỷ, phải tổ chức ban chuyên môn về vấn đề dân tộc thiểu số, phải cho người học chữ, học tiếng các dân tộc ấy để tuyên truyền vận động họ, phải tìm đủ mọi cách tìm mối liên lạc và gây cơ sở ở Miên, Lào và các dân tộc thiểu số như Thổ, Thượng, v.v.. Dù cho sự rút bớt cán bộ để phụ trách công tác này mà đình trệ công tác ít nhiều ở địa phương cũng phải làm. Phải tổ chức cho được những phần tử hăng hái của các dân tộc thiểu số vào Đảng và các Đảng bộ Miên, Lào, cũng như Thổ, Thượng, v.v., vẫn nằm trong hệ thống duy nhất toàn Đảng, dưới một trung tâm chỉ huy duy nhất, vẫn theo đúng tinh thần chủ nghĩa quốc tế, nhưng được tổ chức thành những Đảng bộ tự trị để chỉ huy cho sát với những điều kiện đặc biệt của các dân tộc họ và lôi kéo được quảng đại quần chúng trong các dân tộc ấy tranh đấu đánh đổ đế quốc Pháp, giải phóng dân tộc.

Phải củ soát sự thi hành nghị quyết: Con đường chính trị và nghị quyết của Đảng đưa ra có khi vì đồng chí không hiểu biết, thiếu năng lực mà làm sai, có khi vì nạn khiêu khích phá hoại của mật thám mà bị phá hoại, cũng có khi vì sự xung đột cá nhân trong các đồng chí chấp hành hoặc cái thói độc đoán quan liêu hủ bại của một vài người phụ trách mà làm chậm trễ hoặc hư hỏng. Tất cả những điều hư hỏng ấy, nếu không có sự củ soát thì không sao thấy ngay được mà sửa đổi cho kịp thời để tránh những sai lầm to tát, những thất bại đau đớn và nếu không có sự củ soát thì những nghị quyết dù đúng đến đâu nhiều khi không làm gì. Không có củ soát, cơ quan thượng cấp không hiểu rõ tính chất và năng lực các đảng viên, sự lựa chọn cán bộ sẽ không thoả mãn, không biết dùng hết năng lực của mỗi người và giúp cho mọi người phát triển năng lực.

Từ ba năm nay, Đảng đã dần dần khôi phục được hệ thống toàn quốc ở ba xứ Trung, Nam, Bắc; con đường chính trị chung đại khái thống nhất, nhưng sự thực hành có nhiều chỗ không thống nhất. Sự liên lạc giữa các đảng bộ từ Trung ương đến Xứ uỷ, Xứ uỷ đến Tỉnh uỷ, đến các chi bộ không được mật thiết, địa phương nào chỉ biết lo địa phương ấy, ý chí và hành động của Đảng chưa được thống nhất, sự chỉ huy của Đảng không có thống nhất. Trong thời giờ nghiêm trọng này, trong lúc phong trào cách mệnh đương sắp phát triển hết sức to rộng và sắp bước vào thời kỳ quyết liệt thì Đảng ta nhất định phải thống nhất ý chí lại thành một ý chí duy nhất, một mà thôi. Hành động nhất định phải thống nhất trên dưới khăng khít như một phải theo nguyên tắc, phải có kỷ luật, các đồng chí từ Trung ương đến chi bộ phải liên lạc mật thiết, kết chặt lại như một người, như một tảng đá. Đừng tưởng tượng sự thống nhất của Đảng, uy tín của Đảng như một vật thần bí hoặc tự nhiên vẫn có. Sự thống nhất của Đảng tiền phong cách mệnh phải dựa trên lý luận cách mệnh tiền phong của chủ nghĩa Mác - Lênin, phải xây dựng trên những nguyên tắc Bônsơvích. Sự thống nhất ấy là một sự thống nhất của một Đảng chiến đấu cách mệnh, tổ chức theo một kiểu mẫu mới, rèn luyện trong lò đúc của Lênin, Xtalin. Sự thống nhất ý chí và hành động của Đảng buộc phải có ý chí giác ngộ của toàn thể đảng viên, chớ không phải là nhắm mắt phục tùng. Không có một con đường chính trị đúng đắn và những khẩu hiệu chiến thuật xác thực, cơ quan chỉ huy không tiêu biểu được ý thống nhất của Đảng, không biết tuỳ theo điều thi hành nguyên tắc tổ chức dân chủ tập trung cho tất cả các đảng viên đều được quyền thảo luận con đường chính trị của Đảng, đặng nhận định rõ ràng mà thực hành theo nghị quyết đa số, không liên lạc mật thiết với quần chúng đảng viên và để ý học tập trong quần chúng, không tỏ rõ tinh thần cương quyết hy sinh tận tuỵ với công cuộc cách mệnh thì không thể nói đến thống nhất, uy tín và kỷ luật sắt được. Không tranh đấu chống những cách làm việc cô độc biệt phái, chống cái đầu óc địa phương hẹp hòi, chống nạn tự túc tự mãn, chống cái bệnh khoe khoang cộng sản (Vanité communiste) chỉ lặp lại những câu lý thuyết suông như con vẹt học nói mà không để ý suy xét tìm tòi những phương pháp thực hành sát với hoàn cảnh cụ thể, không tranh đấu chống nạn bao biện và cái đầu óc miệt thị năng lực và sáng kiến của toàn thể đảng viên, mà chỉ nhìn Đảng trong một, hai người hiểu biết, không tranh đấu chống nạn quan liêu hủ bại, chống những hành động vô nguyên tắc, vô kỷ luật thì không thể có ý chí và hành động thống nhất được.

Phải mật thiết liên lạc với quần chúng: Đảng phải liên lạc mật thiết với quần chúng, phải lắng tai nghe tiếng nói của quần chúng, hiểu rõ nguyện vọng của họ, đề ra những yêu cầu thiết thực với họ, trộn lẫn với họ đến một phạm vi nào, không phải để theo đuôi họ mà để lãnh đạo họ, không phải để hạ mình xuống trình độ họ mà để đi trước họ một bước dìu dắt họ lên. Đảng không những chỉ đạo quần chúng, mà cũng phải học hỏi trong quần chúng nữa. Phải xem xét coi những khẩu hiệu của mình có được quần chúng hiểu rõ và hưởng ứng không, phải tìm tòi những nguyên nhân thất bại để sửa đổi, để gần gũi quần chúng, để lôi kéo họ.

Hiện nay tuy Đảng đã có cơ sở vững trong quần chúng, ảnh hưởng Đảng ngày càng lan rộng, song đừng mộng tưởng rằng Đảng đã có cơ sở vững vàng trong quảng đại quần chúng. Những tầng lớp dân chúng rất đông đảo, rất lớn lao còn giữ thái độ bàng quan lãnh đạm hoặc bi quan rụt rè. Chúng ta còn phải nỗ lực tranh đấu để thâu phục những lớp quảng đại quần chúng ấy. Đảng ta vẫn có tính chất quần chúng và đã lãnh đạo quần chúng tranh đấu, song còn phải nỗ lực tranh đấu để trở nên một Đảng chân chính của quần chúng.

Phải có vũ trang lý luận cách mệnh: "Không có lý luận cách mệnh, không có vận động cách mệnh", lời giáo huấn ấy của Lênin chúng ta còn lãng quên nhiều. Chúng ta không cần những bọn lý luận suông, ngồi trích ra hàng tràng câu nói của Mác, Ăngghen, Lênin, Xtalin như tín đồ đọc kinh thánh mà không hiểu rõ tinh tuý, không biết cách ứng dụng cho hợp thời, hợp cảnh. Nhưng chúng ta là đội quân cách mệnh cần phải có vũ trang lý luận cách mệnh, cần phải hiểu rõ những luật vận động và phát triển của xã hội, hiểu rõ đường lối mình đi, biết tiến, biết thoái, thì mới có thể làm tròn vai trò lãnh đạo. Phải tranh đấu chống đầu óc thực hành hẹp hòi, cho rằng cách mệnh chỉ có thực hành không cần lý luận, chống cái xu hướng của một vài đồng chí hễ thấy người nào có nghiên cứu ít nhiều lý luận cách mệnh thì cho là "lý luận", là "trí thức", đồng thời cũng phải đập cho tiêu cái lối làm việc của một vài người cứ ra mệnh lệnh bắt các đồng chí hạ cấp cắm cổ thực hành mà không biết tìm cách nâng cao trình độ chính trị và lý luận của các đồng chí trong lúc công tác, không biết rèn đúc cán bộ trong trường tranh đấu cách mệnh. Phải xuất bản sách báo huấn luyện, phải mở những lớp huấn luyện, phải huấn luyện lý luận cách mệnh cho đảng viên trong sự thực hành cách mệnh, phải kích thích sự ham muốn học tập nghiên cứu và giúp sức cho đảng viên có thể tự nghiên cứu. Nhất là sau mấy năm vận động mặt trận dân chủ vừa qua, sự tuyên truyền chỉ dùng báo chí công khai, sách báo huấn luyện không có, trình độ chính trị và lý luận của đảng viên nói chung rất thấp kém, nhiều đảng viên chỉ biết sơ qua chính sách mặt trận dân chủ đòi tự do cải cách, còn những mục đích cách mệnh, đường lối cách mệnh, nhiệm vụ cách mệnh ra sao không hiểu gì hết, nên sự huấn luyện lại càng cần cấp lúc này hơn lúc nào hết. Đảng phải dịch và xuất bản những tác phẩm quan trọng của chủ nghĩa Mác, Ăngghen, Lênin, Xtalin, nhất là cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Nga để huấn luyện đảng viên và những cán bộ không Đảng.

Phải biết lựa chọn cán bộ mới: Sau khi đã có con đường chính trị đúng rồi thì sự lựa chọn cán bộ để thực hành là điều rất quan hệ, nó quyết định sự thành bại. Thêm nữa phong trào cách mệnh ngày càng phát triển thì càng cần thêm cán bộ mới để chỉ huy; thêm nữa những cán bộ cũ hoặc bị khủng bố tù đày hoặc vì không theo kịp phong trào trở nên bất lực, truỵ lạc, nên phải có cán bộ mới thay thế. Cho nên vấn đề lựa chọn và đào tạo cán bộ là vấn đề đặc biệt quan trọng. Muốn lựa chọn cán bộ phải căn cứ vào công tác. Những người hăng hái và hy sinh, biết cách làm việc và giải quyết các vấn đề sát với hoàn cảnh, sát với quần chúng, biết cách cổ động và thuyết phục quần chúng, được quần chúng tín nhiệm là những cán bộ rất đắc lực. Đừng thấy người đó chưa có nghiên cứu nhiều chủ nghĩa Mác, hoặc còn mới vô Đảng, còn tuổi trẻ mà miệt thị cho rằng không thể trở nên cán bộ lý luận cách mệnh, vì kinh nghiệm sẽ do sự thực hành và học tập mà có. Những cán bộ cũ phải do trong công tác hằng ngày, bày vẽ và giúp sức cho những cán bộ mới, phải giúp sức cho họ nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin để đào tạo họ thành những cán bộ có năng lực và phải tuỳ theo năng lực sở trường của mỗi người mà phân công. Đó là nói cán bộ thường, còn cán bộ chỉ huy, những người phụ trách các cơ quan thượng cấp thì tất nhiên có năng lực hơn nhiều. Lựa cán bộ chỉ huy không thể chỉ căn cứ vào điều kiện trung thành, sự trung thành là điều tất nhiên phải có rồi, nhưng ngoài ra người cán bộ chỉ huy phải có sự nhận thức chính trị đúng đắn những kinh nghiệm công tác đến một trình độ nào đó. Lại phải có năng lực phân tích tình hình một cách đúng, giải quyết vấn đề một cách mau lẹ, gặp sự nguy cấp khó khăn không hoảng sợ bối rối, phải có năng lực tổ chức, biết cách xếp đặt công việc và lựa chọn người phụ trách. Phải được quần chúng đảng viên tín phục và có năng lực thuyết phục, lôi kéo các đồng chí theo mình. Trừ những điều kiện đặc biệt phải dùng lối chỉ định ra, việc lựa chọn cán bộ phải bằng cách tuyển cử theo lối dân chủ tập trung. Trong lúc này vấn đề cán bộ đối với Đảng ta rất khẩn cấp. Nếu chúng ta không đủ sức chú ý lựa chọn và đào tạo cán bộ thì vận động cách mệnh không thể nào phát triển được. Trong khi lựa chọn cán bộ cần chú ý đưa đa số vô sản vào các cơ quan chỉ huy để dễ dàng bảo đảm cho sự đi đúng con đường cách mệnh vô sản.

Phải lập tức khôi phục hệ thống Trung - Nam - Bắc và làm cho các đảng bộ từ chi bộ đến Trung ương mật thiết liên lạc: Vì sự khủng bố mới đây, các đảng bộ bị phá hoại ít nhiều, sự liên lạc của Trung ương với các Xứ uỷ trước kia đã thưa thớt ngày nay lại càng rời rạc; sự liên lạc của các Xứ uỷ với Tỉnh uỷ, Tỉnh uỷ với các quận huyện, các chi bộ nhiều nơi cũng bị đình trệ. Vậy tìm cách khôi phục hệ thống Trung - Nam - Bắc và phải làm cho sự liên lạc từ chi bộ đến Trung ương được khăng khít mật thiết. Nhất là trong lúc này Đảng thay đổi chính sách, phải làm cho chính sách ấy được phổ cập trong toàn Đảng, toàn thể đảng viên đều tham gia thảo luận để cho Đảng có thể thực sự tiêu biểu ý chí và hành động thống nhất của toàn thể đảng viên. Và trong lúc tình thế nghiêm trọng này phong trào cách mệnh sẽ tiến với một tốc độ không ngờ, nếu các tổ chức của Đảng từ trên chí dưới không liên lạc mật thiết như một người thì Đảng không thể chỉ huy phong trào một cách đúng đắn được. Phong trào cách mệnh quần chúng sẽ vì đó mà yếu ớt đi, cách mệnh sẽ không thực hiện được. Đảng ta sẽ mang tội với vô sản, với dân tộc, với cách mệnh vô sản trên toàn thế giới.

Phải khuếch trương và củng cố cơ sở Đảng ở các thành thị, các trung tâm điểm kỹ nghệ và các hầm mỏ, đồn điền: Một trong những điểm rất quan trọng của Đảng ta mà xưa nay vẫn nhiều lần nhắc đến, song vẫn chưa chinh phục được là cơ sở của Đảng ở những nơi công nhân tập trung ở các thành thị, các hầm mỏ, các đồn điền, rất yếu hoặc không có. Mấy thành phố lớn có công nhân tập trung nhiều Sài Gòn, Chợ Lớn, Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vinh có nhiều xí nghiệp Đảng ta chưa có cơ sở, cũng có chỗ có cơ sở nhưng còn rất yếu. Tuy đã chú ý phái người đi vận động các hầm mỏ, các đồn điền cao su, nhưng vì chỉ có một vài người đảm đương, có khi năng lực còn kém, kinh nghiệm ít, lại không được các ban xứ uỷ thiết thực giúp sức chỉ dẫn, nên vẫn chưa có được thành tích gì mấy, hoặc có khi làm nửa chừng rồi bỏ dở. Bây giờ phải đập cho tiêu cái óc gặp đâu làm đó và dễ làm khó bỏ đi. Phải tuỳ theo hoàn cảnh mà nghiên cứu những phương pháp cụ thể mà vận động cho được. Xứ uỷ Bắc Kỳ phải đặc biệt chú ý đến các hầm mỏ, Xứ uỷ Trung Kỳ đến các nơi công nhân tập trung như Trường Thi, Bến Thuỷ, Tourane, v.v.. Xứ uỷ Nam Kỳ đến thành phố Sài Gòn, Chợ Lớn và các đồn điền cao su, phải chọn người có năng lực, có kinh nghiệm công nhân vận động và có chí nhẫn nại cương quyết để phụ trách và phải thiết thực giúp đỡ cho họ về mọi phương diện. Nếu không gây được cơ sở rộng rãi, vững vàng ở những nơi công nhân tập trung thì không thể nói đến vai trò lãnh đạo thực tế của vô sản giai cấp trong công cuộc cách mệnh.

Phải chú ý gây dựng cơ sở Miên, Lào và tổ chức những Đảng bộ tự trị của các dân tộc thiểu số: Ta đã thấy vận mạng và sự giải phóng của các dân tộc Đông Dương có liên quan mật thiết thì ta phải đặc biệt chú ý sự vận động các dân tộc Miên, Lào và các dân tộc thiểu số; phải nghiên cứu những phương pháp cụ thể để thực hành nhiệm vụ ấy, đừng có nói rồi bỏ đấy như trước. Bây giờ ban Trung ương cũng như Xứ uỷ, phải tổ chức ban chuyên môn về vấn đề dân tộc thiểu số, phải cho người học chữ, học tiếng các dân tộc ấy để tuyên truyền vận động họ, phải tìm đủ mọi cách tìm mối liên lạc và gây cơ sở ở Miên, Lào và các dân tộc thiểu số như Thổ, Thượng, v.v.. Dù cho sự rút bớt cán bộ để phụ trách công tác này mà đình trệ công tác ít nhiều ở địa phương cũng phải làm. Phải tổ chức cho được những phần tử hăng hái của các dân tộc thiểu số vào Đảng và các Đảng bộ Miên, Lào, cũng như Thổ, Thượng, v.v., vẫn nằm trong hệ thống duy nhất toàn Đảng, dưới một trung tâm chỉ huy duy nhất, vẫn theo đúng tinh thần chủ nghĩa quốc tế, nhưng được tổ chức thành những Đảng bộ tự trị để chỉ huy cho sát với những điều kiện đặc biệt của các dân tộc họ và lôi kéo được quảng đại quần chúng trong các dân tộc ấy tranh đấu đánh đổ đế quốc Pháp, giải phóng dân tộc.

Phải củ soát sự thi hành nghị quyết: Con đường chính trị và nghị quyết của Đảng đưa ra có khi vì đồng chí không hiểu biết, thiếu năng lực mà làm sai, có khi vì nạn khiêu khích phá hoại của mật thám mà bị phá hoại, cũng có khi vì sự xung đột cá nhân trong các đồng chí chấp hành hoặc cái thói độc đoán quan liêu hủ bại của một vài người phụ trách mà làm chậm trễ hoặc hư hỏng. Tất cả những điều hư hỏng ấy, nếu không có sự củ soát thì không sao thấy ngay được mà sửa đổi cho kịp thời để tránh những sai lầm to tát, những thất bại đau đớn và nếu không có sự củ soát thì những nghị quyết dù đúng đến đâu nhiều khi không làm gì. Không có củ soát, cơ quan thượng cấp không hiểu rõ tính chất và năng lực các đảng viên, sự lựa chọn cán bộ sẽ không thoả mãn, không biết dùng hết năng lực của mỗi người và giúp cho mọi người phát triển năng lực. Ý chí và hành động không thống nhất trong Đảng, một phần cũng vì không củ soát hay thiếu củ soát. Bởi các lẽ đó Ban Trung ương và các Xứ uỷ phải tổ chức ra ban củ soát để kinh thường đi củ soát công tác các đảng bộ. Ở mỗi đảng bộ, mỗi cơ quan, các đồng chí làm việc với nhau phải để ý củ soát lẫn công tác của nhau, phải tìm xem vì nguyên nhân gì công tác không phát triển để sửa đổi và định phương pháp tiến hành.

Phải có các ban chuyên môn: Đảng ta hiện giờ chưa có được một ban chính trị chuyên môn, lý do không phải thiếu người mà cũng không phải hầu hết vì thiếu tiền. Cái lý do chính là vẫn chưa thấy rõ sự cần thiết của các ban chuyên môn. Vì thế nên công việc tiến hành của Đảng về mọi phương diện không thể phát triển được. Đảng phải tin vào năng lực các đảng viên, tụ họp họ lại thành những ban chuyên môn, ban tuyên truyền vận động, ban tài chính, ban giao thông, ban công vận, nông vận, ban vận động dân tộc thiểu số, v.v., mặc dù những ban ấy có khi đầu tiên không làm được việc nhiều, không thấy được những phương pháp để tiến hành công việc, nhưng trong sự chuyên môn tìm tòi lâu ngày, sáng kiến này sẽ giúp sáng kiến kia càng làm cho công việc Đảng càng hoàn bị.

Công tác chi bộ: Chi bộ là cơ sở của Đảng, sinh hoạt chính trị của chi bộ là biểu hiện sinh hoạt chung của toàn Đảng. Các đồng chí chi bộ thường chỉ thu hẹp sự sinh hoạt chính trị trong một lò máy. Đành rằng cái công tác nhà máy, xí nghiệp là công tác hằng ngày của chi bộ, nhưng chi bộ cần phải chú ý đến sự hoạt động chung của toàn Đảng. Có như vậy các đồng chí chi bộ mới có ý thức rõ ràng về nội bộ Đảng, về công tác chung toàn Đảng, làm cho Đảng ngày thêm mạnh mẽ, khỏi phải cái bệnh cá nhân cô độc. Phải làm cho các đồng chí trong chi bộ nhận rõ mỗi một đồng chí trong ngày thường là một tên lính của đội quân tuyên truyền vận động tranh đấu, khi bạo động là người đi đầu lãnh đạo quần chúng ra chiến trường, lúc thành công là những người thợ xây dựng xã hội mới. Tất cả những công việc ấy buộc một người đồng chí chi bộ phải luôn luôn hoạt động trong quần chúng, luôn luôn đào tạo mình, huấn luyện mình để đủ tài năng làm phận sự. Những điều ấy các đồng chí chi bộ thường ít để ý đến, các đồng chí thường coi mình như một cổ động viên, có cơ hội là cổ động tranh đấu, ngoài ra không có việc nào là cách mệnh nữa. Phải phân công, phải hội nghị luôn, phải hăng hái làm đội quân tiền phong tuyên truyền, phải xông pha vào trong quần chúng mà tuyên truyền, tổ chức, vận động tranh đấu, phải chỉ trích phê bình, phải báo cáo luôn cho các cơ quan thượng cấp và bắt các cơ quan thượng cấp thông báo luôn luôn tình hình nội bộ, tình hình quần chúng, tình hình trong xứ và quốc tế. Đây là những nhiệm vụ chính của chi bộ.

Phải chú ý chống nạn khiêu khích mật thám: Nói đến sự củng cố nội bộ không thể không nói đến sự tranh đấu chống nạn khiêu khích mật thám. Sự khiêu khích mật thám là một hình thức tranh đấu của Chính phủ, của giai cấp thống trị chống với Đảng cách mệnh, các phong trào cách mệnh. Giai cấp thống trị hàng giờ hàng phút dùng hình thức tranh đấu khốn nạn ấy để phá phong trào cách mệnh. Sự thờ ơ sao nhãng của Đảng ta chống bọn khiêu khích mật thám đã đưa lại cho Đảng nhiều đau đớn. Những tình cảm tiểu tư sản, sự không bao giờ củ soát người bạn tranh đấu của mình là sự dung túng nạn khiêu khích mật thám. Sự dùng người tạm vì thiếu người là những đường lối đưa bọn khiêu khích mật thám vào. Dưới cái chính phủ do anh mật thám cầm đầu (Catờru) sự tranh đấu chống nạn mật thám lại càng phải ráo riết hơn nữa.

Phải kiên cố tổ chức lại, phải điều tra củ soát lại các đảng viên, tẩy trừ những phần tử phức tạp, phải tuỳ theo điều kiện bí mật mà chia các chi bộ thành phân bộ và tiểu tổ (mỗi tiểu tổ không quá năm người). Làm việc phải theo nguyên tắc, không dung thứ những tình cảm tiểu tư sản, phải phân công rành mạch, phải chú ý sự tổ chức các cơ quan. Trong khi đi lại với các cơ quan phải cẩn thận, phải có cách viết, cách giao thông bí mật, các đồng chí có công việc liên lạc với nhau chỉ nói cho nhau biết những điều cần phải biết để làm việc chứ không thể nói những điều có thể nói cho nhau biết được, cái căn bản chống nạn khiêu khích mật thámlà vấn đề củng cố các tổ chức biết phân công và củ soát công việc.

Tự chỉ trích và tranh đấu trên hai mặt trận:

Đảng ta còn tương đối trẻ tuổi, chắc hẳn phạm nhiều điều khuyết điểm và sai lầm; sự liên lạc giữa các đảng bộ không được mật thiết, nhiều sáng kiến hay của đảng viên không thu nạp được, sự khôi phục hệ thống toàn quốc còn trong bước đầu, cơ quan chỉ đạo nhiều khi chưa thực tiêu biểu đúng ý kiến chính xác của toàn Đảng. Các khuynh hướng tả khuynh, hữu khuynh, lối hành động cô độc, biệt phái, quan liêu hủ bại còn nhiều. Tất cả những tình trạng ấy nếu không có sự tự chỉ trích Bônsơvích, phân tích những nguyên nhân sai lầm thất bại, tìm phương châm sửa đổi, nếu không cương quyết tranh đấu để Bônsơvích hoá Đảng thì phong trào cách mệnh sẽ không thể phát triển được và Đảng cũng không thể xứng đáng là đội quân tiền phong cách mệnh, một lãnh tụ chính trị của giai cấp.

Phải chịu khó học tập trong quần chúng, cả quần chúng đảng viên lẫn quần chúng không đảng viên, quần chúng vô tổ chức. Đừng e ngại, đừng tự ái, sẵn sàng và thành thực nhận lấy những lỗi lầm của mình, cứ nắm vững lấy nguyên tắc cách mệnh và sẵn sàng thay đổi khẩu hiệu chiến thuật của mình cho thích hợp với quần chúng để có thể thâu phục được quảng đại quần chúng.

Tự chỉ trích Bônsơvích phải có nguyên tắc, có kỷ luật theo dân chủ tập trung và phải luôn luôn đặt quyền lợi uy tín Đảng lên trên hết. Không được lợi dụng tự chỉ trích mà gây mầm bè phái chống Đảng và làm rối loạn hàng ngũ Đảng. Sau khi thảo luận và nghị quyết rồi, thiểu số phải phục tùng đa số, hạ cấp phải phục tùng thượng cấp. Tự chỉ trích và tranh đấu trên hai mặt trận có khăng khít liên lạc và cũng là một vấn đề.

Trong tình hình nghiêm trọng này, nếu không để ý kiên quyết chống xu hướng rụt rè bi quan, không lãnh đạo quần chúng tranh đấu, hoặc thoả hiệp quá, sai nguyên tắc trong sự liên minh các đảng phái (hữu khuynh) đồng thời không cương quyết chống chủ trương cô độc, những lối manh động (tả khuynh) thì sẽ đưa cách mệnh đến chỗ thất bại đau đớn nếu không phải là thủ tiêu cách mệnh.

CÁC ĐỒNG CHÍ!

Thời cuộc hết sức nghiêm trọng, nhiệm vụ và lịch sử phó thác cho ta rất nặng nề. Là những phần tử tiên tiến của giai cấp thợ thuyền và là những con cháu tinh anh tận tuỵ với công cuộc giải phóng dân tộc, chúng ta phải giác ngộ rõ cái sứ mệnh lớn lao ấy và đủ can đảm, đủ nghị lực, đủ sáng suốt để gánh vác nó.

Các đồng chí hãy siết chặt hàng ngũ lại!

Muôn nghìn người cố kết như một!

Tiến lên thực hiện Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương!

Tiến lên lật đổ ách đế quốc, tranh lấy độc lập, giải phóng, tự do, bình đẳng, hoà bình, hạnh phúc!

Mặc dầu những trận sấm sét khủng bố của quân thù, mặc dầu những cơn phong ba bão táp dữ dội, con tàu cộng sản vẫn vững vàng lướt sóng ngoài khơi nhờ ngọn đèn "pha" của "chủ nghĩa xã hội khoa học " Mác, Ăngghen, Lênin, Xtalin rọi đường và nhờ đã rèn luyện trong trường cách mệnh, được những gân cốt sắt đá, có một ý chí quả quyết không hề lay chuyển được, con tàu của chúng ta sẽ vượt qua muôn nghìn trùng sóng bạc, chiến thắng tất cả một cách oanh liệt mà vào bến.

Tương lai sẽ về chúng ta!

Thắng lợi sẽ về tay chúng ta!




Ngày 6, 7,8, tháng 11 năm 1939
BAN TRUNG ƯƠNG
ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG


Các từ khóa theo tin:

In trang | Gửi góp ý


Các tin trước
Nghị quyết của Hội nghị cán bộ lần thứ V về công tác dân vận và công tác Mặt trận thống nhất dân tộc (06/10/2015)
Nghị quyết Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ IV (miền Bắc Đông Dương) (06/10/2015)
Nghị quyết của Hội nghị toàn quốc lần thứ ba về việc chuyển mạnh sang tổng phản công (từ 21-1 đến 3-2-1950) (06/10/2015)
Nghị quyết Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ sáu (từ ngày 14 đến ngày 18 tháng 1 năm 1949) (06/10/2015)
Nghị quyết Hội nghị Trung ương mở rộng, ngày 15, 16, 17 tháng 1 năm 1948 (06/10/2015)
Nghị quyết của Hội nghị Trung ương ngày 6, 7, 8, 9 tháng 11 năm 1940 (06/10/2015)
 Trang 1 / 1 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin tiếp
Nghị quyết của toàn thể Hội nghị của Ban Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 20, 30 tháng 3 năm 1938 (06/10/2015)
Nghị quyết khoáng đại Hội nghị của toàn thể Ban Trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương (họp từ ngày 25-8 đến 4-9-1937) (06/10/2015)
Nghị quyết Chính trị của Đại biểu Đại hội (congrès) lần thứ nhất Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 27 đến 31-3-1935 (06/10/2015)
Điều lệ Đảng Cộng sản Đông Dương (02/10/2015)
Chánh cương vắn tắt, sách lược vắn tắt, chương trình tóm tắt của Đảng (1-1930) (15/09/2010)
Vai trò của đồng chí Nguyễn Ái Quốc với Hội nghị thành lập Đảng (09/09/2010)
Niên biểu toàn khoá (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng) (16/06/2010)
Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa I (1935-1951) (16/06/2010)
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Đảng (08/06/2010)
 Trang 1 / 1 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
TƯ LIỆU VĂN KIỆN
      - DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XII
      - DANH SÁCH BỘ CHÍNH TRỊ KHÓA XII
      - DANH SÁCH BAN BÍ THƯ KHÓA XII
      - TỔNG BÍ THƯ QUA CÁC THỜI KỲ
      - BỘ CHÍNH TRỊ, BAN BÍ THƯ, BCH TW
      - CÁC ĐẢNG BỘ TRỰC THUỘC TW
 
VIDEO
Đổi mới công tác đánh giá cán bộ theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng
AUDIO
Báo chí quốc tế tiếp tục đưa tin về chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Hoa Kỳ
Tổng thống Barack Obama và Chủ tịch Quốc hội thăm nhà sàn Bác Hồ
Truyền thông quốc tế đưa tin về việc Hoa Kỳ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí với Việt Nam
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tiếp Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama
Ảnh thời sự
Trưng bày các phương tiện phòng cháy, chữa cháy hiện đại nhất
Liên hoan phim quốc tế Hà Nội lần thứ IV
“Đêm hội trăng rằm - Đưa Trung thu về với biển đảo”
Bảo tồn di tích Những địa điểm Khởi nghĩa Yên Thế
Công bố Quyết định thành lập Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2016-2021
Từ Đại hội đến Đại hội
 Đại hội II
 Đại hội III
 Đại hội IV
 Đại hội V
 Đại hội VI
 Đại hội VII
 Đại hội VIII
 Đại hội IX
 Đại hội X
 Đại hội XI
 Đại hội XII
 
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : dangcongsan@cpv.org.vn
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet